|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày: 26 - 6 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Tuấn
2. Ông Nguyễn Huy Cường
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Mỹ Tiên, Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên toà: Ông Triệu Nhựt Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 24/7/1999, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh P; chị em ruột 02 người, bị cáo là người thứ hai; Tiền án: không, tiền sự: Ngày 02/01/2025, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, thời hạn 18 tháng; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2025 cho đến nay tại Phân traị tạm giam khu vực huyện C, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1972; nơi cư trú: Áp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt
Người làm chứng: Ông Võ Văn Q, bà Trần Thị B đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 04/3/2025, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tại quán cà phê “Lê Tường” thuộc tổ A, ấp M, xã M, huyện C có Nguyễn Tuấn K là đối tượng bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn đang ngồi uống cà phê, nên lực lượng Công an xã M, huyện C phối hợp Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh A tiến hành kiểm tra phát hiện trên bàn K ngồi có 01 bọc nilon trong suốt hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng. Qua làm việc, K khai nhận là ma túy đá mua của một người tên Nguyễn Minh P1 ở khu vực bến đò Vịnh Tre, thuộc xã M, huyện C với giá 300.000 đồng để sử dụng, nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Kết luận giám định số: 314/KL-KTHS ngày 07/3/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã M, Công an tỉnh A; ghi “CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA C, C, HUYỆN C, ngày 04 tháng 3 năm 2025” và các chữ ký ghi họ tên: Lê Như T, H, Võ Văn Q, Nguyễn Tuấn K. Bên trong có 01 (một) bọc nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng, khối lượng: 0,8462g (Không phẩy tám bốn sáu hai gam) (kí hiệu M). Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 0,8462g (Không phẩy tám bốn sáu hai gam). (Bút lục số 18).
Kết luận giám định số 540/KL-KTHS ngày 28/4/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: 01 (một) điện thoại di động gửi đến giám định nhãn hiệu Redmi, model: Redmi A3, có số IMEI 1: 861188074070328 và số IMEI 2: 861188074070336, trong điện thoại có gắn 02 thẻ SIM. Điện thoại được niêm phong trong phong bì màu trắng, bên ngoài có chữ ký, chữ viết mang tên: Nguyễn Tuấn K, Lê Như T, H, Trần Văn P2 và dấu tròn màu đỏ của Công an xã M – Công an tỉnh A (kí hiệu A). Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi có số IMEI 1: 861188074070328 và số IMEI 2: 861188074070336 (ký hiệu A) do Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong 01 đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo giao cho Cơ quan điều tra.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Tuấn K khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung vụ án; lời khai người làm chứng; kết luận giám định; các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2025.
Theo Cáo trạng số 32/CT-VKSCP ngày 12/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Tuấn K thừa nhận ngày 04/3/2025, K khai nhận là ma túy đá mua của một người tên Nguyễn Minh P1 ở khu vực bến đò Vịnh Tre, thuộc xã M, huyện C với giá 300.000 đồng để sử dụng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố.
Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng:
- Nguyễn Thị Thanh P (mẹ ruột bị can Nguyễn Tuấn K) trình bày: Xe mô tô biển số 67D1-715.59 do P đứng tên sở hữu. Ngày 04/3/2025, K có mượn xe để đi chơi, việc K sử dụng để làm phương tiện đi mua ma túy P không biết và xin được nhận lại xe. (Bút lục số 105 -106)
- Võ Văn Q, Trần Thị B trình bày phù hợp nội dung vụ án. (Bút lục số 104, 113).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K từ 02 (hai) 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù đến về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính ngày 04/3/2025. Bị cáo khó khăn về kinh tế nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
Các vật chứng đã thu giữ là vật liên quan đến tội phạm nên đề nghị áp dụng Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 314/KL-KTHS ngày 07/3/2025) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh A và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H, Lê Như T. Bên trong có các vật mẫu còn lại sau khi đã giám định, tổng khối lượng 0,8240g (Không phẩy tám hai bốn không gam); 01 ống phiểu thuỷ tinh; 01 hộp quẹt ga đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, model: Redmi A3, có số IMEI 1: 861188074070328 và số IMEI 2: 861188074070336, trong điện thoại có gắn 02 thẻ SIM;
Giao trả cho Nguyễn Thị Thanh P 01 xe môtô, biển số 67D1 – 715.59
Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian tạm giam bị cáo đã biết hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và thấy ăn năn hối cải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra và truy tố của Cơ quan điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[1.2] Người làm chứng ông Võ Văn Q và bà Trần Thị B vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú; lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04/3/2025 (Bút lục số 01), lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các Kết luận giám định số 314/KL-KTHS ngày 07/3/2025 và 540/KL-KTHS ngày 28/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh A, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 04/3/2025 tại quán cà phê “L" thuộc tổ A, ấp M, xã M, huyện C có Nguyễn Tuấn K là đối tượng bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn đang ngồi uống cà phê, nên lực lượng Công an xã M, huyện C phối hợp Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh A tiến hành kiểm tra phát hiện trên bàn K ngồi có 01 bọc nilon trong suốt hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,8462g (không phẩy tám bốn sáu hai gam) từ một người tên Nguyễn Minh P1 nhằm mục đích sử dụng.
Bị cáo Nguyễn Tuấn K đã trên 18 tuổi, không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết ma túy Methamphetamine là chất Nhà nước cấm tàng trữ trái phép. Bị cáo không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đã cố ý cất giấu 0,8462g (không phẩy tám bốn sáu hai gam) ma túy Methamphetamine để nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm Luật phòng chống ma túy, xâm phạm đến việc quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ...;
b) ...;
c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm Tội tàng trữ trái pháp chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi của bị cáo, thấy rằng:
Ma túy là chất Nhà nước độc quyền quản lý. Bị cáo biết ma túy là chất cấm tàng trữ trái phép nhưng không được phép của nhà nước mà bị cáo cố ý tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cá nhân là trái pháp luật. Việc tàng trữ ma túy để sử dụng làm tiêu hao tài sản cá nhân, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe, gây tâm lý lo lắng cho người dân, phát sinh việc có người bán ma túy để bị cáo sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo tàng trữ 0,8462g (không phẩy tám bốn sáu hai gam) ma túy Methamphetamine thuộc mức khối lượng thấp trong điều luật quy định để nhằm mục đích sử dụng.
[2.3] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Tuấn K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, Bị cáo có khả năng nhận thức pháp luật thấp, lần đầu phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[2.4] Xét về nhân thân: Ngày 02/01/2025, Nguyễn Tuấn K bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành là 18 tháng nhưng bị cáo đang bỏ trốn, chưa chấp hành. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Tuấn K là người có có tiền sự, nhân thân không tốt.
Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật; tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và nhân thân bị cáo để quyết định hình phạt đối với bị cáo vừa bảo đảm tương xứng với tính nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, vừa đảm bảo sự khoan hồng nhằm mục đích cải tạo, giáo dục đối với bị cáo vừa đảm bảo phòng ngừa đối với loại tội phạm này. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt thấp trong khu hình phạt để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian là hình phạt cho hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, giáo dục bị cáo.
Bị cáo khó khăn về kinh tế nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về các biện pháp tư pháp:
Bị cáo sử dụng điện thoại di động hiệu Redmi, model: Redmi A3 có gắn sim liên lạc mua ma túy để tàng trữ và sử dụng. Một ống phiểu thuỷ tinh trong suốt; 01 hột quẹt ga đã qua sử dụng là công cụ để bị cáo sử dụng ma túy. Các vật này trực tiếp liên quan đến tội phạm. Ma túy Methamphetamine bị cáo tàng trữ sau khi giám định khối lượng còn lại là 0,8462g (không phẩy tám bốn sáu hai gam) ma túy được niêm phong trong 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 314/KL-KTHS ngày 07/3/2025) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh A và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H, Lê Như T là loại Nhà nước cấm tàng trữ. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, model: Redmi A3, có số IMEI 1: 861188074070328 và số IMEI 2: 861188074070336, trong điện thoại có gắn 02 thẻ SIM; Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 314/KL-KTHS ngày 07/3/2025) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh A và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H, Lê Như T. Bên trong có các vật mẫu còn lại sau khi đã giám định, tổng khối lượng 0,8240gr (Không phẩy tám hai bốn không gam); 01 ống phểu thuỷ tinh; 01 hộp quẹt ga đã qua sử dụng.
Đối với 01 (Một) xe mô tô biển số 67DA – 715.59 của Nguyễn Thị Thanh P cho bị cáo K mượn. Do bà P không biết bị cáo K mượn xe để đi mua ma tuý để sử dũng cũng như trong hồ sơ không có tài liệu, chứng cứ khác thể hiện việc bà P biết việc K mượn xe bà để sử dụng vào việc sử dụng đi mua ma tuý nên cần trả lại cho bà P tiếp tục quản lý, sử dụng.
[4] Đối với Nguyễn Minh P1 là người bị cáo K khai rằng là người bán ma tuý cho bị cáo theo hồ sơ vụ án không có chứng cứ chứng minh và chưa làm việc được nên Cơ quan Điều tra Công an tỉnh A tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng theo quy định
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn K bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04 tháng 3 năm 2025.
Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 314/KL-KTHS ngày 07/3/2025) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh A và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H, Lê Như T. Bên trong có các vật mẫu còn lại sau khi đã giám định, tổng khối lượng 0,8240gr (Không phẩy tám hai bốn không gam); 01 ống phiểu thuỷ tinh trong suốt dung để sử dụng ma tuý; 01 hộp quẹt ga đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, model: Redmi A3, có số IMEI 1: 861188074070328 và số IMEI 2: 861188074070336, trong điện thoại có gắn 02 thẻ SIM.
Giao trả cho bà Nguyễn Thị Thanh P 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER biển số 67D1 – 715.59;
(Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A và Chi cục thi hành án dân huyện Châu Phú)
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Châu Phú; - Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - VKSND tỉnh An Giang; - TAND tỉnh An Giang; - Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang; - Công an xã nơi bị cáo cư trú (khi án có hiệu lực); - Lưu: Văn phòng, Bộ phận Thi hành án hình sự. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tuyết Mai |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn Khang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý
