Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày: 26 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài và ông Lê Phi Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Hoàng Thái S; sinh ngày 19/4/1982, tại Hải Phòng; nơi cư trú: thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: số E đường L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trung H và bà Ngô Thị N; vợ là Đào Thị T; có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo đầu thú ngày 21/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
  2. Họ và tên: Đặng Văn D; sinh ngày 09/02/1986, tại Đ, Quảng Ninh; nơi cư trú: số G, tổ B, khu N, phường K, Đ, Quảng Ninh; nghề nghiệp: kế toán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể: là Đảng viên Đ đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng; con ông Đặng Văn N1 và bà Ngô Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo đầu thú ngày 21/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Ngô Thị N, sinh năm 1956; nơi cư trú: thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1991 (Nguyên Giám đốc Công ty TNHH T9); nơi cư trú: TDP H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn xin xét xử văng mặt).
  3. Bà Trần Thị Xuân L, sinh năm 1964 - Giám đốc Công ty TNHH T10; nơi cư trú: TDP V, phường M, quận N, thành phố Hà Nội, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Ông Trương Quốc H2, sinh năm 1982 – Nguyên giám đốc Công ty cổ phần T11; Nơi cư trú: N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2

  1. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1968 - Giám đốc Công ty TNHH A1; Nơi cư trú: thôn T, xã T, Đ, Quảng Ninh, có mặt.

- Người làm chứng:

Chị Nguyễn Thị H3, chị Trần Thị Lan C1, chị Nguyễn Thị Huyền T1, chị Phạm Thị Đài T2, chị Nguyễn Thị Bích H4 và anh Nguyễn Văn H5, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 4/2014 đến tháng 9/2019, Hoàng Thái S đã chỉ đạo Đặng Văn D thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T12, Minh T3 (viết tắt là Công ty M3) và mua lại Công ty trách nhiệm hữu hạn T13 (Công ty T13) để mua bán hoá đơn giá trị gia tăng (GTGT) không có hàng hoá kèm theo, cả 02 Công ty này có địa chỉ tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, đều không có kho hàng, bến bãi, không có hoạt động sản xuất kinh doanh. S thuê D làm Kế toán trưởng, thuê Đồng Thị H6 và Đoàn Thị T4 làm giám đốc các công ty trên. S, D đã làm thủ tục mở tài khoản công ty tại Ngân hàng N3 - chi nhánh T14, Tây Nam Q (A2), Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 - Chi nhánh H8 (B) để phục vụ cho việc chuyển các khoản tiền hợp thức việc mua bán hóa đơn. Đồng thời, cả 02 đăng ký in hóa đơn GTGT, khắc dấu công ty, khắc dấu tên, chức danh, chữ ký giám đốc công ty rồi giao cho D có trách nhiệm quản lý, sử dụng viết hóa đơn. Cả S và D đều tìm kiếm khách hàng để bán hóa đơn GTGT.

Khi có khách cần mua hóa đơn, S hỏi khách hàng những thông tin cần viết trên hóa đơn (Tên, địa chỉ, mã số thuế của bên mua hóa đơn; Loại hàng hóa dịch vụ, số lượng, đơn giá, thành tiền) cung cấp cho D viết hóa đơn, sau đó S lấy hóa đơn đã ghi nội dung chuyên cho khách hàng. Sau khi các doanh nghiệp mua hóa đơn chuyển tiền đến tài khoản công ty, D rút tiền mặt giao lại cho S. Đối với khách hàng trực tiếp mua hóa đơn với D thì D báo cho S biết, thống nhất số tiền bán hóa đơn, khi khách hàng chuyển tiền vào tài khoản công ty D1 rút tiền mặt, giữ lại số tiền bán hóa đơn rồi chuyển cho khách số tiền còn lại. Trong một số trường hợp, D không trực tiếp đi rút tiền mà cung cấp séc có đủ chữ ký Giám đốc, Kế toán để người của công ty mua hóa đơn tự rút tiền mặt; D nhờ Nguyễn Thị H3, Trần Thị Lan C1 là người quen, chỉ đạo Nguyễn Thị Huyền T1, Phạm Thị Đài T2 là nhân viên kế toán làm thuê cho Duy thực hiện các giao dịch rút tiền. S còn thuê Nguyễn Văn H5 là lái xe taxi chuyển tài liệu giữa S và D. Toàn bộ số tiền thu được sau khi bán hóa đơn D đều chuyển cho S. Cuối năm 2019, sau khi dừng hoạt động của 02 công ty trên, S thu lại tiêu hủy toàn bộ con dấu, hóa đơn nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Việc mua bán hóa đơn của 02 công ty trên được Hoàng Thái S và Đặng Văn D thực hiện như sau:

1) Công ty TNHH MTV M3:

Ngày 01/4/2014, Đặng Văn D làm thủ tục thành lập Công ty M3, mã số thuế 5701699522, Giám đốc là Đồng Thị H6, đăng ký địa chỉ kinh doanh tại K, Đ, Quảng Ninh (địa chỉ nhà của D). Các bị cáo sử dụng 03 tài khoản số 8003201004916 A2, số 44210000163418 BIDV tây nam B và số 32110000772238 B để nhận và chuyển các khoản tiền hợp thức việc mua bán hóa đơn.

3

Từ ngày 01/6/2014 đến ngày 31/3/2016, Hoàng Thái S và Đặng Văn D đã bán 137 số hóa đơn GTGT với số tiền hàng hóa ghi trên hóa đơn là 27.759.126.505 đồng cho 27 doanh nghiệp, với giá từ 2,5% - 10% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn, thu lợi 911.200.916 đồng. Trong đó, D trực tiếp viết và bán 43 hóa đơn cho 10 doanh nghiệp (Công ty A1, Q, H, Khánh L1, H, N, xây dựng Đông Triều, Nhất bản Vạn lợi, V, Công ty CP Đ2), thu lợi 454.900.224 đồng; D viết hóa đơn rồi chuyển cho S trực tiếp bán 94 số hóa đơn, cho 17 doanh nghiệp (Công ty T15, S, Công ty TNHH Đ2, KD than Đông Triều, Vỹ M, T, Hồng L2, GIQ, Phương C2, TM Đ, B HD, An Thuận P, UBND phường M, H, B, T, B) thu lợi 456.300.692 đồng (Cụ thể các công ty mua, sử dụng hóa đơn của Công ty M3 và số tiền S, D thu lợi sau khi bán hóa đơn GTGT có phụ lục kèm theo).

Để hợp thức đầu vào cho Công ty M3, Hoàng Thái S đã mua 31 hóa đơn GTGT với số tiền hàng hóa dịch vụ ghi trên hóa đơn là 22.468.434.833 đồng, với giá 2.500.000 đồng/1 hóa đơn của 03 công ty: Công ty TNHH T16 (Giám đốc Nguyễn Thị Hồng Á), Công ty TNHH T9 (Giám đốc Nguyễn Thị H1), Công ty cổ phần T17 (Giám đốc Phạm Ngọc A). Cả 3 công ty này đều có trụ sở tại huyện C, thành phố Hải Phòng, đã ngừng hoạt động. S không nhớ đã giao dịch với ai để mua hóa đơn của Công ty T9 và Hoàng Hải P1, đối với 08 số hóa đơn mang tên Công ty T17, S mua của Ngô Thị T5 (sinh năm 1962, hiện đang chờ Tòa án Hải Phòng xét xử về hành vi mua bán trái phép hóa đơn) với giá 20.000.000 đồng, S đưa ủy nhiệm chi, giấy giới thiệu cho T5 tự rút tiền hợp thức việc mua bán hóa đơn.

2) Công ty TNHH T13:

Sau khi dừng hoạt động mua bán hóa đơn GTGT của Công ty M3, đến tháng 6/2018 Hoàng Thái S chỉ đạo Đặng Văn D mua lại Công ty TNHH T13 của bà Lê Thị Hải N2 để tiếp tục mua bán hóa đơn. S thuê Đoàn Thị T4 làm Giám đốc, chuyển thông tin của T4 cho D đăng ký thay đổi thông tin Công ty HM ngày 08/6/2018, mở tài khoản số 44210000238574 B cho Công ty T13. S không thực hiện việc mua hóa đơn đầu vào mà tự cân đối kê khai số thuế đầu vào cho công ty này.

Tháng 7/2018 và tháng 9/2019, Đặng Văn D đã viết 06 hóa đơn GTGT của Công ty T13 không có hàng hóa kèm theo, với tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn là 10.843.140.000 đồng, chuyển cho Hoàng Thái S bán cho 02 công ty: Công ty TNHH H9 (mã số thuế 0200587970; địa chỉ: Q, A, Hải Phòng; Giám đốc Trần Thị Minh L3) 05 số hóa đơn, với giá 01% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn 8.941.940.000 đồng, thu lợi 89.419.400 đồng; bán cho Công ty L4 (mã số thuế 5700102278; địa chỉ: M, Đ, Quảng Ninh; Tổng giám đốc: Nguyễn Văn K1) 01 số hóa đơn, với giá 08% trị giá tiền hàng ghi trên hóa đơn 1.901.200.000 đồng, thu lợi 152.096.000 đồng. Tổng số tiền S đã thu lợi sau khi bán hóa đơn GTGT của Công ty T13 là 241.515.400 đồng.

Như vậy, tổng số tiền Hoàng Thái S thu lợi sau khi bán hóa đơn GTGT của Công ty M3 và Công ty T13 là: 911.200.916 + 241.515.400 = 1.152.716.316 đồng. D được S trả công kế toán thuê 200.000.000 đồng, S chiếm hưởng 952.716.316 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Hoàng Thái S và Đặng Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên.

4

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Xuân L và ông Trương Quốc H2 vắng mặt tại phiên toà; ông Nguyễn Văn K có mặt tại phiên toà, đều có lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo về nội dung vụ án; những người liên quan đều có quan điểm về số tiền mà họ đã tự nguyện nộp tại giai đoạn điều tra là để khắc phục hậu quả cho hành vi trốn thuế của doanh nghiệp, ngoài ra không có ý kiến gì thêm.

Bà Nguyễn Thị H1 trong giai đoạn điều tra khai: do muốn có tiền để trang trải cuộc sống nên bà đã nhận lời đứng tên làm giám đốc cho Công ty ông T6, bà H6, mỗi tháng được trả 3 triệu đồng, bà không trực tiếp vận hành kinh doanh công ty T9 nên không nắm được Công ty thành lập chỉ để bán trái phép hoá đơn. Sau khi làm việc với CQĐT, được nghe và giải thích bà hiểu việc làm của bà là đã giúp cho các đối tượng lợi dụng hoạt động kinh doanh để hoạt động phạm tội, do vậy bà đã tự nguyện nộp lại số tiền được trả công 6.000.000 đồng.

Bà Ngô Thị N (mẹ đẻ bị cáo S) tại phiên tòa bà có quan điểm: số tiền 150.000.000 đồng đã nộp là tiền của gia đình bà tự nguyện nộp với mục đích nhằm khắc phục hậu quả cho bị cáo S và không yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm hoàn trả lại.

Bà Ngô Thị C (mẹ đẻ bị cáo D) tại phiên toà khai: số tiền 100.000.000 đồng là của gia đình bà tự nguyện nộp vào Cục Thi hành án dân sự (do Nguyễn Thị M1 là cháu bà nộp thay) để khắc phục hậu quả cho bị cáo D, nay gia đình bà không yêu cầu bị cáo D phải hoàn trả.

Tại Cáo trạng số 1710/CT-VKSQN-P3 ngày 19/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo: Hoàng Thái S và Đặng Văn D về tội: “Mua bán trái phép hóa đơn” quy định tại các điểm: d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội: “Mua bán trái phép hoá đơn” và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng: điểm d, đ khoản 2 và khoản 3 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

  • Xử phạt bị cáo Hoàng Thái S từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
  • Xử phạt bị cáo Đặng Văn D 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.

Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Biện pháp tư pháp: buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đem xám thu giữ của bị cáo Đặng Văn D và số tiền mà bà Nguyễn Thị H1, bà Trần Thị Xuân L, ông Trương Quốc H2 và ông Nguyễn Văn K đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả tại Cơ quan điều tra.

Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

5

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Tại phiên toà các bị cáo đều có lời khai thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội không oan.

Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2014 đến tháng 9/2019, Hoàng Thái S đã chỉ đạo Đặng Văn D thành lập Công ty TNHH MTV M3, mua lại Công ty TNHH T13 để bán trái phép hóa đơn GTGT không có hàng hóa kèm theo. S và D đã bán trái phép tổng số 143 số hóa đơn GTGT cho 29 doanh nghiệp, với tổng số tiền hàng hóa dịch vụ ghi khống trong hóa đơn là 38.602.266.505 đồng, thu lợi bất chính 1.152.716.316 đồng, trong đó S hưởng lợi 952.716.316 đồng, D được S trả công 200.000.000 đồng. Ngoài ra, để hợp thức đầu vào cho Công ty TNHH MTV M3, Hoàng Thái S còn mua trái phép 31 số hóa đơn của Công ty TNHH T16, Công ty TNHH T9 và Công ty cổ phần T17 với số tiền hàng ghi trên hóa đơn là 22.468.434.833 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Thái S và bị cáo Đặng Văn D đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép hóa đơn” quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả của tội phạm:

Trong vụ án các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý hóa đơn, chứng từ của Nhà nước, đồng thời xâm phạm đến hoạt động quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước, gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế của Nhà nước; các bị cáo đều biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì vụ lợi vẫn cố ý thực hiện, do vậy cần xử phạt nghiêm để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Xét vai trò: các bị cáo thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo S là người chỉ đạo bị cáo Duy thực H7 hành vi phạm tội, nên bị cáo S có vai trò đầu trong vụ án; bị cáo D làm theo chỉ đạo và giúp sức tích cực cho S trong việc thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò sau.

6

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: các bị cáo có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều ra đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được hành vi phạm tội của mình; tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; các bị cáo còn tác động gia đình nộp một phần số tiền thu lời bất chính để khắc phục hậu quả; ngoài ra bị cáo S có bổ đẻ là ông Hoàng Trung H tham gia chiến đấu chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ giải phóng, có bố vợ là ông Đào Quang C3 được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba. Do đó các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo.

Về hình phạt chính: khi lượng hình, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Tuy nhiên từ giai đoạn điều tra, truy tố đến nay các bị cáo mới chỉ tác động gia đình nộp một phần số tiền hưởng lợi nên dù có xem xét giảm nhẹ hình phạt đến đâu thì việc cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.

- Về hình phạt bổ sung: các bị cáo phạm tội đều với mục đích vụ lợi, do đó cần phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền nhất định để sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 203 Bộ luật Hình sự.

[7] Về biện pháp tư pháp: buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính do mua bán trái phép hoá đơn mà có để sung ngân sách Nhà nước.

Xác nhận bị cáo S đã tự nguyện nộp 150.000.000 đồng, bị cáo D đã tự nguyện nộp 100.000.000 đồng, cần buộc các bị cáo phải nộp tiếp số tiền còn thiếu để sung nộp ngân sách Nhà nước.

[8] Xử lý vật chứng và tài sản bị thu giữ:

  • Đối với chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo Đặng Văn D liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước; 01 sim điện thoại kèm theo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với số tiền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tự nguyện nộp tại Cơ quan điều tra, gồm: bà Nguyễn Thị H1 6.000.000 đồng, bà Trần Thị Xuân L- Giám đốc Công ty TNHH T10 493.000.000 đồng, ông Trương Quốc H2- GĐ Công ty cổ phần T11 100.000.000 đồng và ông Nguyễn Văn K- Giám đốc Công ty TNHH A1 5.500.000 đồng.

Xét thấy:

  • Đối với số tiền 6.000.000 đồng là tiền bà H1 được trả công do đứng tên giám đốc TNHH thương mại và dịch vụ T9 bán trái phép hoá đơn cho bị cáo S, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • Đối với số tiền bà Trần Thị Xuân L- Giám đốc Công ty TNHH T10 tự nguyện nộp tại Cơ quan điều tra. Quá trình điều tra xác định Công ty này trốn thuế

7

GTGT số tiền 492.288.127 đồng, do vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 492.288.127 đồng, số tiền bà L nộp còn thừa là 711.873 đồng được trả lại cho bà L.

  • Đối với số tiền ông Nguyễn Văn K- Giám đốc Công ty TNHH A1 tự nguyện nộp tại Cơ quan điều tra. Quá trình điều tra xác định Công ty này trốn thuế GTGT số tiền 5.401.454 đồng, do vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.401.454 đồng, số tiền ông K nộp còn thừa là 98.546 đồng được trả lại cho ông K. Tuy nhiên tại phiên toà ông K có quan điểm không nhận lại số tiền thừa này, do đó cần sung ngân sách Nhà nước số tiền này.
  • Đối với số tiền ông Trương Quốc H2- GĐ Công ty cổ phần T11 tự nguyện nộp tại Cơ quan điều tra. Quá trình điều tra xác định Công ty này trốn thuế GTGT số tiền 762.965.764 đồng. Ông H2 đã tự nguyện nộp 100.000.000 đồng, do vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 100.000.000 đồng này; đối với số tiền thuế còn thiếu, do hành vi của ông K không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (do hết thời hiệu), nên Toà án không tuyên truy thu số tiền thuế còn thiếu mà Cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[9] Về một số vấn đề liên quan đến vụ án:

  • Đối với các ông bà: (1) Trần Thị Xuân L - Giám đốc Công ty TNHH T10, (2) Nguyễn Đình T7 - Giám đốc Xí nghiệp khai thác và kinh doanh than Đông Triều, (3) Nguyễn Minh V1 - Giám đốc Công ty CP X, (4) Trương Quốc H2 - GĐ Công ty cổ phần T11, (5) Nguyễn Thị Bích H4 - điều hành hoạt động Công ty TNHH T18, (6) Nguyễn Văn M2 - Giám đốc Công ty TNHH MTV T19, (7) Nguyễn Thanh T8 - Giám đốc Công ty CP T20, đã có hành vi mua, sử dụng trên 10 số hóa đơn bất hợp pháp, kê khai khấu trừ số tiền thuế hơn 100 triệu đồng. Nhưng do hành vi vi phạm thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 6/2014 đến tháng 3/2016 nên không còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Công ty L4 đã mua, sử dụng 01 số hóa đơn của Công ty T13 với trị giá tiền hàng ghi trên hóa đơn là 1.901.200.000 đồng, tiền thuế là 190.120.000 đồng; Sau khi rà soát phát hiện số hóa đơn trên là bất hợp pháp, đơn vị đã kịp thời kê khai bổ sung, nộp lại toàn bộ số tiền thuế 190.120.000 đồng vào ngân sách Nhà nước nên không đề cập xử lý.
  • Bà Trần Thị Minh L3, ông Bùi Văn Q là Giám đốc, Phó giám đốc Công ty TNHH H9, có hành vi mua trái phép hóa đơn của Công ty TNHH T13. Ngày 09/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã khởi tố, tạm giam Trần Thị Minh L3 về hành vi “Mua bán trái phép hóa đơn”, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q đã có Công văn số 354 ngày 24/01/2025 chuyển toàn bộ tài liệu liên quan đến Trần Thị Minh L3 và Công ty TNHH H9 đến Cơ quan điều tra Công an thành phố H để giải quyết theo thẩm quyền.
  • Đối với ông Nguyễn Văn H5 là lái xe taxi được S thuê vận chuyển tài liệu, hóa đơn chứng từ qua lại giữa S và D; bà Nguyễn Thị H3, bà Trần Thị Lan C1, bà Nguyễn Thị Huyền T1, bà Phạm Thị Đài T2 có hành vi rút tiền giúp D, những người này chỉ làm thuê, làm hộ D, không biết hoạt động mua bán trái phép hóa đơn của D và S; bà Phạm Thị Ngọc A, bà Nguyễn Thị H1 cho người khác mượn thông tin cá nhân để thành lập Công ty T17, Công ty T9 nhưng không biết các công ty này mua bán trái phép hóa đơn, nên không đề cập xử lý.

8

  • Bà Đồng Thị H6 đã chết năm 2017, bà Đoàn Thị T4 hiện không có mặt tại địa phương, hiện không rõ T4 đi đâu làm gì, nên chưa có căn cứ để xử lý.
  • Đối với 27 đơn vị, doanh nghiệp đã sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty M3 do Hoàng Thái S và Đặng Văn D bán ra, để kê khai báo cáo khấu trừ thuế, ngày 24/01/2025 Cơ quan điều tra đã ban hành công văn gửi đến các Cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền đề nghị xử lý theo quy định nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[10] Luận tội của đại diện đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: điểm d, đ khoản 2 và khoản 3 Điều 203; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: bị cáo Hoàng Thái S và bị cáo Đặng Văn D phạm tội: “Mua bán trái phép hóa đơn”.

- Xử phạt:

  1. Bị cáo Hoàng Thái S 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.

Hình phạt bổ sung: phạt bị cáo S 30.000.000₫ (ba mươi triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

  1. Xử phạt bị cáo Đặng Văn D 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.

Hình phạt bổ sung: phạt bị cáo D 20.000.000đ (hai mươi triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Buộc các bị cáo phải nộp số tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách Nhà nước, cụ thể:

  • Buộc bị cáo Hoàng Thái S phải nộp số tiền 952.716.316 đồng (chín trăm năm mươi hai triệu, bầy trăm mười sáu nghìn, ba trăm mười sáu đồng).

Xác nhận bị cáo S đã nộp 150.000.000₫ (một trăm năm mươi triệu đồng), trong đó có: 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) theo Giấy nộp tiền số 11224901 ngày 18/02/2025 nộp tại Ngân hàng TMCP C4- Chi nhánh Q1 - Phòng G vào tài khoản số 39490903986200000 của Công an tỉnh Q mở tại Kho bạc Nhà nước Q2 và 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) nộp theo Biên lai thu tiền số 0005952 ngày 19/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh. Bị cáo S còn phải nộp tiếp số tiền 802.716.316 đồng (tám trăm linh hai triệu, bầy trăm mười sáu nghìn, ba trăm mười sáu đồng).

9

  • Buộc bị cáo Đặng Văn D phải nộp số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).

Xác nhận bị cáo D đã nộp 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0005340 ngày 17/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh. Bị cáo D còn phải nộp tiếp số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).

- Về xử lý vật chứng, tài sản liên quan: căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen xám thu giữ của bị cáo Đặng Văn D; tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại kèm theo.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 64 ngày 20/02/2025 giữa cơ quan CQCSĐT Công an tỉnh Q với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh)

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:

  • Số tiền 492.288.127 đồng (bốn trăm chín mươi hai triệu, hai trăm tám mươi tám nghìn, một trăm hai mươi bảy đồng) do bà Trần Thị Xuân L - Giám đốc Công ty TNHH T10; trả lại cho bà L số tiền nộp còn thừa là 711.873 đồng (bảy trăm mười một nghìn, tám trăm bảy mươi ba đồng).
  • Số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu đồng) do ông Nguyễn Văn K- Giám đốc Công ty TNHH A1 nộp.
  • Số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) do ông Trương Quốc H2- GĐ Công ty cổ phần T11 tự nguyện nộp.
  • Số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) do bà Nguyễn Thị H1 nộp.

(Theo Giấy nộp tiền số: 11224930, 11224916, 11224910 và 11224906, ngày 18/02/2025 nộp tại Ngân hàng TMCP C4- Chi nhánh Q1- Phòng G vào tài khoản số 39490903986200000 của Công an tỉnh Q mở tại Kho bạc Nhà nước Q2).

- Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng Thái S và bị cáo Đặng Văn D, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/3/2025).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Xuân Hoài

Lê Phi Long

Phạm Duy Hải

Nơi nhận:

  • VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • CQCSĐT CA tỉnh Quảng Ninh;
  • Trại tạm giam CATQN;
  • Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • Bị cáo, NLQ;
  • Phòng PV 06 Công an tỉnh Q.Ninh;
  • Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Duy Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép hóa đơn

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thái Sơn và bị cáo Đặng Văn Duy phạm tội: “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger