Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày 26 - 02 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Quang Hòa
  2. Bà Thái Thục Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thiện Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 357/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Cao Thị L; sinh năm 1982, tại Thành phố Cần Thơ; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: B L, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Đức T và bà Trần Thị Y; có chồng tên Nguyễn Văn L1 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2024 đến nay. (có mặt)

  3. Nguyễn Văn L1; sinh năm 1972, tại Long An; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Tổ I, Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An; chỗ ở: B L, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 và bà Võ Thị B; có vợ tên Cao Thị L và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

- Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn B2; địa chỉ trụ sở: 2 Hòa Bình, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp: Ông Lâm H, sinh năm 1975; nơi cư trú: B Hòa Bình, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (là Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn B2). (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2019, Cao Thị L được nhận vào Công ty Trách nhiệm hữu hạn B2 (địa chỉ trụ sở: 2 Hòa Bình, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh), công việc được giao là làm tạp vụ dọn dẹp tại kho chứa hạt nhựa của Công ty (địa chỉ: Số E Hồ H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh). Đến tháng 4/2022, do cần tiền tiêu xài và điều trị bệnh cho chồng là Nguyễn Văn L1 nên L nảy sinh ý định và bàn bạc với L1 về việc để L trộm cắp tài sản là hạt nhựa của Công ty để bán lấy tiền, L1 đồng ý. Thực hiện ý định trên, cách vài ngày L lấy trộm 01 bao hạt nhựa nặng 25kg, sau đó lấy 05kg cho vào túi vải rồi đem về nhà tại địa chỉ B L, Phường A, Quận H; còn lại 20kg L giấu tại nhà vệ sinh nữ ở lầu 1 của Công ty, sau khi tan ca buổi chiều L đi vào nhà vệ sinh lấy tiếp 05kg hạt nhựa cho vào túi vải đem về nhà. Sau khi chuyển hết số hạt nhựa trong bao L mới tiếp tục lấy thêm bao hạt nhựa nặng 25kg khác cũng bằng cách thức như trên.

Khi số lượng hạt nhựa lấy trộm cất giấu tại nhà được khoảng 300kg thì L1 liên lạc và bán hạt nhựa cho người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch, sử dụng số điện thoại 0899.871.xxx). Lần gọi cho Trần Văn B1 Em là tài xế xe ba gác đến nhà tại số B L, Phường A, Quận H chở hạt nhựa đi cùng L1 đến giao cho T2 tại trước số C Đ, Phường A, Quận F. Tổng cộng L1 đã bán hạt nhựa cho T2 10 lần với tổng khối lượng khoảng 3000kg, số tiền thu được là 60.000.000 đồng, L1 đưa hết cho L để tiêu xài. Lần không nói cho T2 và Bào E nguồn gốc số tài sản nêu trên do phạm tội mà có. Lần tự bỏ tiền cá nhân ra trả công chở hàng cho Bào E từ 250.000 đồng đến 300.000 đồng cho mỗi lần chở hàng.

Khoảng 14 giờ, ngày 15/5/2023, trong lúc quét dọn tại kho chứa hạt nhựa của công ty, L tiếp tục lấy trộm 01 bao hạt nhựa nặng 25kg, sau đó đem giấu vào thùng đựng rác đặt trước văn phòng làm việc của kho hàng. Lúc này, anh Lê Đình H1 là thủ kho của Công ty đi kiểm tra thì phát hiện thùng đựng rác đặt trước văn phòng làm việc của kho hàng có 01 bao hạt nhựa nặng 25kg được giấu bên dưới bao đựng vỏ chai. Do trước đó Công ty bị mất một số lượng lớn các bao hạt nhựa nên anh H1 nghi ngờ L lấy trộm và yêu cầu L lên văn phòng làm việc. Tại đây, L thừa nhận hành vi lấy trộm 01 bao hạt nhựa nặng 25kg nêu trên, ngoài ra L còn thừa nhận việc đã giấu 10kg hạt nhựa đựng trong thùng giấy để tại nhà vệ sinh nữ ở lầu một của Công ty và 05kg hạt nhựa giấu trong túi vải của L. Sau đó, anh H1 báo sự việc cho ông Lâm H (là Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn B2) đưa L cùng vật chứng đến Công an P, Quận H trình báo. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra, Cao Thị L và Nguyễn Văn L1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 06/9/2023, Hội đồng định giá tài sản Quận H có Kết luận số 159/KL-HĐĐGTS như sau:

  • - 15kg hạt nhựa, màu trắng, hình tròn, theo hình ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Q cung cấp, qua khảo sát thực tế có giá là: 15kg x 28.000 đồng/kg = 420.000 đồng (bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
  • - 25kg hạt nhựa, màu trắng, hình tròn, bên ngoài bao có ghi chữ “LYONDELLBASELL”, theo hình ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Q cung cấp, qua khảo sát thực tế có giá là: 25kg x 28.000 đồng/kg = 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xác định được đầy đủ thông tin và đặc điểm của 2960kg hạt nhựa (không thu hồi được vật chứng). Do đó, Hội đồng định giá tài sản Quận H không có cơ sở định giá.

Ngày 09/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q làm việc với ông Lâm H, ông H cung cấp 05 mẫu mã bao bì hạt nhựa gồm các mã viết tắt như sau: LLD khối lượng 1.700kg đơn giá 29.000 đồng/kg; PP khối lượng 125kg đơn giá 29.000 đồng/kg; LD khối lượng 1.025kg đơn giá 29.000 đồng/kg; HD khối lượng 75kg đơn giá 29.000 đồng/kg và EVA khối lượng 75kg đơn giá 29.000 đồng/kg mà công ty B2 bị mất trộm trong khoảng thời gian từ tháng 4/2022 đến ngày 15/5/2023. Cao Thị L đã thừa nhận việc lấy trộm các mã hạt nhựa nêu trên, trong đó 40kg hạt nhựa mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thu giữ vào ngày 15/5/2023 thuộc mã LD.

Ngày 08/3/2024, Hội đồng định giá tài sản Quận H có kết luận số 11/KL-HĐĐGTS như sau:

  • + 1.700kg hạt nhựa, màu trắng, hình tròn, nhãn hiệu Lotrene, mã LLD, còn nguyên 100%, theo hình ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Q cung cấp, qua khảo sát thực tế có giá là: 1.700kg x 29.000đồng/kg = 49.300.000 đồng;
  • + 125kg hạt nhựa, màu trắng, hình tròn, nhãn hiệu Lotte chemical, mã PP, còn nguyên 100%, theo hình ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Q cung cấp, qua khảo sát thực tế có giá là: 125kg x 29.000đồng/kg = 3.625.000 đồng;
  • + 985kg hạt nhựa, màu trắng, hình tròn, nhãn hiệu nhãn hiệu LDPE, mã LD, còn nguyên 100%, theo hình ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Q cung cấp, qua khảo sát thực tế có giá là: 985kg x 29.000đồng/kg = 28.565.000 đồng;
  • + 75kg hạt nhựa, màu trắng, hình tròn, nhãn hiệu nhãn hiệu HDPE, mã HD, còn nguyên 100%, theo hình ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Q cung cấp, qua khảo sát thực tế có giá là: 75kg x 29.000đồng/kg = 2.175.000 đồng;
  • + 75kg hạt nhựa, màu trắng, hình tròn, nhãn hiệu Lotte chemical, mã EVA, còn nguyên 100%, theo hình ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Q cung cấp, qua khảo sát thực tế có giá là: 75kg x 29.000đồng/kg = 2.175.000 đồng.

Tổng cộng 2.960kg hạt nhựa có giá trị là 85.840.000 đồng.

Như vậy, tổng số hạt nhựa 3.000kg mà Cao Thị L đã trộm cắp có giá trị là 86.960.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, Model: TA-1010 cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn L1;
  • - 01 túi vải màu xám, đen, trắng bên trong có 01 bịch nylon đen chứa 05kg hạt nhựa màu trắng hình tròn;
  • - 01 thùng giấy bên trong có 01 bịch nylon đen chứa 10kg hạt nhựa màu trắng hình tròn;
  • - 01 bao nylon trắng bên trong chứa 25kg hạt nhựa màu trắng hình tròn.

Trách nhiệm dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn B2 do ông Lâm H làm đại diện không có yêu cầu bồi thường thiệt hại do các bị cáo đã thực hiện khắc phục hậu quả, bồi thường số tiền 87.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 299/CT-VKS-Q8 ngày 13/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Cao Thị L, Nguyễn Văn L1 về tội “Trộm cắp tài sảntheo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sảnSau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Cao Thị L từ 03 năm đến 04 năm tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, do bị hại xác định đã nhận đủ bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét. Về xử lý vật chứng đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, tạm giữ của bị cáo L1 do đây là công cụ bị cáo dùng để liên lạc bán tài sản trộm cắp. 01 bịch nylon đen chứa 05kg hạt nhựa màu trắng hình tròn; 01 bịch nylon đen chứa 10kg hạt nhựa màu trắng hình tròn; 01 bao nylon trắng bên trong chứa 25kg hạt nhựa màu trắng hình tròn do đây là tài sản trộm cắp, bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước. 01 túi vải màu xám, đen, trắng; 01 thùng giấy của bị cáo L có dùng vào việc chứa đựng tài sản trộm cắp, xét không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận; các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Do cần tiền tiêu xài, Cao Thị L và Nguyễn Văn L1 thống nhất việc lấy trộm tài sản để bán lấy tiền. Từ khoảng tháng 4/2022 đến ngày 15/5/2023, tại kho hàng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn B2 (địa chỉ: Số E Hồ H, Phường A, Quận H), Cao Thị L đã có hành vi trộm cắp 3.000kg hạt nhựa là tài sản của Công ty B2 với tổng trị giá là 86.960.000 đồng rồi đưa cho Nguyễn Văn L1 mang đi bán lấy tiền tiêu xài chung.

[3] Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của tổ chức được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại đã có đơn bãi nại, không yêu cầu khởi tố và xin xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.

[5] Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo L là người thực hiện việc trộm cắp và có vai trò chính, bị cáo L1 đồng phạm tham gia giúp sức phụ giúp bị cáo L bán tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét, quyết định hình phạt phù hợp với tính chất, vai trò từng bị cáo.

[6] Hành vi phạm tội của các bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo L đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo L ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

[7] Bị cáo L1 tình trạng sức khỏe kém hiện đang bị bệnh; vợ bị cáo là bị cáo L đã bị bắt tạm giam trong vụ án này nên bị cáo L1 đang là lao động chính, người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc dạy dỗ và đưa đón 02 con đi học. Xét bị cáo L1 có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo không có tình tiết tăng nặng, cần tạo điều kiện cho bị cáo nuôi dưỡng dạy dỗ chăm sóc 02 con còn tuổi học sinh. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần phải bắt bị cáo L1 chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo với một thời gian thử thách nhất định theo quy định tại các khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

[8] Các bị cáo thực hiện nhiều lần cùng một hành vi trộm cắp, nhưng mỗi lần giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng; các bị cáo thực hiện các hành vi trộm cắp một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian nên phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tổng giá trị tài sản của các lần trộm cắp là 86.960.000 đồng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[9] Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo điều kiện kinh tế còn khó khăn, vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[10] Về xử lý vật chứng vụ án:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, Model: TA-1010 cũ, đã qua sử dụng, tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn L1, bị cáo có dùng để liên hệ bán tài sản trộm cắp xét có liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước; 01 bịch nylon đen chứa 05kg hạt nhựa màu trắng hình tròn, 01 bịch nylon đen chứa 10kg hạt nhựa màu trắng hình tròn, 01 bao nylon trắng bên trong chứa 25kg hạt nhựa màu trắng hình tròn, là tài sản trộm cắp, bị hại đã nhận được bồi thường và không có yêu cầu nhận lại tài sản là số nhựa này, nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - 01 túi vải màu xám, đen, trắng; 01 thùng giấy của bị cáo L có dùng vào việc chứa đựng tài sản trộm cắp, xét không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn B2 do ông Lâm H làm đại diện không có yêu cầu bồi thường thiệt hại do các bị cáo đã thực hiện khắc phục hậu quả, bồi thường số tiền 87.000.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện và quyền tự định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[12] Đối với Trần Văn Bào E (chở hàng cho Nguyễn Văn L1) không biết tài sản do phạm tội mà có và người đàn ông tên T2 hiện chưa xác định được lai lịch cụ thể nên cơ quan điều tra không xử lý là có là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[13] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Xử phạt bị cáo Cao Thị L 03 (ba) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2024.
  • - Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án với thời gian thử thách là 05 (năm) năm về tội “Trộm cắp tài sản”. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
  • Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • - Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Tịch thu tiêu hủy:
    • + 01 túi vải màu xám-đen-trắng.
    • + 01 thùng giấy.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
    • + 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, Model: TA-1010 cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn L1;
    • + 01 bịt nilon đen chứa 5kg hạt nhựa màu trắng hình tròn; bên trong có 01 bịt nilon đen chứa 10kg hạt nhựa màu trắng hình tròn; 01 bao nilon màu trắng bên trong chứa 25kg hạt nhựa màu trắng hình tròn của Cao Thị L.

    (Theo Biên bản giao - nhận tang tài vật ngày 18/11/2024).

  • - Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Buộc các bị cáo mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKS ND Quận 8;
  • - VKS ND TP. HCM;
  • - CQ ĐT CA Quận 8;
  • - CQ THA HS CA Quận 8;
  • - Chi cục THA DS Quận 8;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - TA ND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - PV06;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do cần tiền tiêu xài, Cao Thị L và Nguyễn Văn L1 thống nhất việc lấy trộm tài sản để bán lấy tiền. Từ khoảng tháng 4/2022 đến ngày 15/5/2023, tại kho hàng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn B2 (địa chỉ: Số E Hồ H, Phường A, Quận H), Cao Thị L đã có hành vi trộm cắp 3.000kg hạt nhựa là tài sản của Công ty B2 với tổng trị giá là 86.960.000 đồng rồi đưa cho Nguyễn Văn L1 mang đi bán lấy tiền tiêu xài chung.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger