Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN NAM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST
Ngày: 25-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thanh Yên
Bà Trịnh Thị Hồng Cúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Dĩ Khang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Hữu H (Mặt S), sinh ngày: 24/4/1995, tại Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu T (đã chết) và bà Bùi Thị G, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Ngày 05/11/2022, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dưỡng thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong;
  • - Ngày 26/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 30/2015/HSST, đã xóa án tích;
  • - Ngày 16/10/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong;
  • - Ngày 10/6/2020, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành xi xâm hại sức khỏe người khác số tiền 2.000.000đ (đã nộp phạt);
  • - Ngày 02/8/2020, bị Cơ quan điều tra khởi tố về tội về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, ngày 11/01/2022, Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam ra quyết định đình chỉ vụ án theo quyết định số 01/HSST-QĐ, do bị hại rút yêu cầu.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 20/01/2025, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, Trại tạm giam Công an tỉnh N – Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1995, địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Những người làm chứng:

  • - Anh Lê Minh C, sinhh năm 1996, nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt);
  • - Anh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1998, địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt);
  • - Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt);
  • - Chị Trần Thị Tố U, sinh năm 1992, nơi đăng ký HKTT: Thôn L, xã C, huyện T. Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt);
  • - Chị Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1998, địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Hữu H (tên gọi khác: Mặt S) và anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1995, trú tại thôn L, xã P, huyện T có mâu thuẫn với nhau từ trước.

Khoảng 22 giờ ngày 12/12/2024, anh Lê Minh C, sinh năm 1996, trú tại thôn B, xã N, huyện T và anh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1998, trú tại thôn L, xã C, huyện T rủ H đến quán K ở thôn L, xã P, huyện T để nhậu và hát karaoke, H đồng ý. Do quán karaoke gần nhà Nguyễn Hữu V nên H mang theo 01 (một) cây dao tự chế để làm hung khí nếu đánh nhau. Khi H đến quán K đã thấy C và T1 đứng chờ. C nói quán đã đóng cửa nên cả nhóm bàn bạn tìm quán khác để chơi. Lúc này, chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1994 trú tại thôn L, xã P (là chị dâu của Nguyễn Hữu V) đi ngang thấy nhóm của H, nghĩ nhóm của H tìm đánh V nên chị B nói với V “Mặt sắt và hai thằng nào đến nhà mày kìa, lo đóng cửa ngủ đi”. V thấy nhóm của H nên vào nhà lấy 01 cây rựa và 01 kết bia miền trung, bên trong có 06 vỏ chai thủy tinh chạy ra đứng cách nhóm của H khoảng 05 mét và nói “Mặt sắt, mày thích gì tới đấy” đồng thời dùng vỏ chai bia ném về phía H. H chạy đến xe mô tô lấy 01 cây dao dài 36cm, đường kính 02cm, lưỡi bằng kim loại dài 32cm, rộng 5,5cm, một cạnh mài sắt, đầu nhọn để đánh nhau với V. V cầm cây rựa chém H nhưng không trúng, hai người ôm nhau giằng co, V cắn vào tay H nên H đẩy V ngã ra đường và cầm dao trên tay phải chém liên tục 02 nhát từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào vùng mặt của V gây thương tích. C chạy đến kéo H ra và được mọi người can ngăn nên H vứt con dao tại hiện trường rồi bỏ đi. V được người nhà đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh N. Ngày 14/12/2024, anh Nguyễn Hữu V có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 31, ngày 13/01/2025 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N kết luận thương tích của Nguyễn Hữu V như sau: “Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:

  • - Tỷ lệ phần trăm thương tật đối với từng vết thương gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Hữu V là:
    • + Vết thương vùng má trái đến gò má sẹo liền tốt kích thước (7,5x0,6)cm, ảnh hưởng thẩm mỹ (09%).
    • + Vết thương dọc thái dương trái sẹo liền tốt kích thước (3,4x0,2)cm (01%).
  • - Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu V tại thời điểm giám định là: 10% (mười phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
  • - Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương qua điều trị nhận định do vật sắc gây ra.

Đồ vật, tài sản tạm giữ; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ, chuyển Tòa án xử lý theo quy định đối với:

  • - 01 (một) cây dao cán bằng kim loại dài 36cm, đường kính 02cm lưỡi bằng kim loại dài 32cm, rộng 5,5cm, một cạnh mài sắc, đầu nhọn;
  • - 01 (một) đôi dép bằng nhựa, màu vàng có ký hiệu “VIP”;
  • - 01 (một) vỏ chai bia bằng thủy tinh, nhãn hiệu “Miền trung”, bị bể phần đầu, kích thước cao 16cm, đường kính 06cm;
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx, biển số 85E1-262.69, màu đen vàng, số máy: KC34E5034778, số khung: RLHKC4419NY032125;
  • - Tạm giữ và đưa vào hồ sơ vụ án 01 đĩa CD-R, chứa 01 đoạn video có dung lượng 17,8MB, thời lượng 01 phút 48 giây, ghi lại hình ảnh sự việc V bị đánh;
  • - Tạm giữ và đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Ngọc Bảo H2, sinh năm 2004, trú tại thôn L, xã P, huyện T 01 (một) xe mô tô biển số 85EA-020.95.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Hữu V yêu cầu bồi thương số tiền 66.526.000 đồng. Bị cáo Lê Hữu H đồng ý bồi thường số tiền 23.876.000đ.

Tại bản Cáo trạng số: 26/CT-VKSTN ngày 24/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Lê Hữu H (Mặt S)) về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Hành vi của bị cáo Lê Hữu H (Mặt S) có đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hữu H (Mặt S) từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Lê Hữu H bồi thường cho anh Nguyễn Hữu V số tiền 23.876.000đ.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) cây dao cán bằng kim loại dài 36cm, đường kính 02cm lưỡi bằng kim loại dài 32cm, rộng 5,5cm, một cạnh mài sắc, đầu nhọn;
  • - 01 (một) đôi dép bằng nhựa, màu vàng có ký hiệu “VIP”;
  • - 01 (một) vỏ chai bia bằng thủy tinh, nhãn hiệu “Miền trung”, bị bể phần đầu, kích thước cao 16cm, đường kính 06cm;

T2 trả cho Lê Hữu H:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx, biển số 85E1-262.69, màu đen vàng, số máy: KC34E5034778, số khung: RLHKC4419NY032125.

Bị cáo không tranh luận.

Bị hại anh Nguyễn Hữu V đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử làm rõ hành vi của anh Lê Minh C là đồng phạm trong vụ án.

Lời nói sau cùng: Tại phiên tòa, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Hữu H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Do có mâu thuẫn từ trước nên vào khoảng 22 giờ 10 phút, ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận, Lê Hữu H đã cố ý dùng dao tự chế là hung khi nguy hiểm chém anh Nguyễn Hữu V gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10% (mười phần trăm). Ngày 14/4/2024, anh Nguyễn Hữu V có đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo; bị cáo còn tác động gia đình nộp khắc phục hậu quả 1.000.000đ. Các tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có bà ngoại được nhà nước tặng thưởng bằng khen; ngoài ra trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi khi ném chai bia về phía bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo,

[4]. Về quyết định hình phạt đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác cũng như từng bị khởi tố về tội Cố ý gây thương tích, tuy không được xem là có tiền án nhưng có căn cứ cho thấy bị cáo có ý thức chấp hành phát luật kém nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm mục đích giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật cũng như các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa việc phạm tội mới, cũng như giáo dục bị cáo phải tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm.

[5]. Đối với Lê Minh C và Nguyễn Đình T1: Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Hữu V khai ngoài bị cáo Lê Hữu H ra thì còn có Lê Minh C dùng dao chém, Nguyễn Đình T1 dùng tay, chân đánh bị hại. Xét thấy, quá trình điều tra Lê Minh C và Nguyễn Đình T1 không thừa nhận hành vi đánh V, hơn nữa ngoài lời khai của bị hại V ra thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh anh Lê Minh C có tham gia đánh anh V. Tại phiên tòa, người làm chứng Nguyễn Thị B và Nguyễn Thị Mỹ H1 cũng như tại biên bản lấy lời khai chị Trần Thị Tố U đều trình bày không chứng kiến sự việc xô sát giữa các bên, cũng như không thấy ai là người gây thương tích cho anh V mà chỉ nghe tiếng la hét. Bên cạnh đó căn cứ vào vật chứng thu được tại hiện trường, bảng mô tả ảnh hiện trường cũng như cơ chế hình thành vết thương cho bị hại có đủ căn cứ xác định bị cáo H là người gây thương tích cho bị hại V, Vì vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự đối với C và T1 là có căn cứ nên không xem xét.

[6]. Đối với anh Nguyễn Hữu V có hành vi dùng vỏ chai thủy tinh và cây rựa rượt đánh bị cáo H nhưng không gây thương tích, Cơ quan điều tra đã chuyển sang xử lý hành chính là có căn cứ nên không xem xét.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Hữu V yêu cầu bị cáo Lê Hữu H bồi thường tổng cộng là 66.526.000 đồng, bao gồm các khoản: Tiền viện phí có hóa đơn là: 1.176.000 đồng; Tiền xe ô tô dịch vụ chở đi bệnh viện và chở về (không có hóa đơn): 700.000 đồng; Tiền công lao động trong thời gian một tháng rưỡi do không lao động được là 22.500.000 đồng (500.000 đồng/ngày); Tiền tổn thất tinh thần bằng 05 tháng lương cơ sở là 12.150.000 đồng; Tiền chi phí để sau này thẩm mỹ là 30.000.000 đồng.

Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xét chấp nhận các khoản chi phí hợp lý bao gồm: Tiền viện phí có hóa đơn là 1.176.000 đồng, tiền xe chở đi và về là 700.000 đồng. Đối với tiền công lao động, xét thấy, tại phiên tòa bị hại V xác định không nằm viện ngày nào, mà chỉ đi tới bệnh viện xử lý vết thương rồi về, vì vậy không có căn cứ cho rằng bị hại bị mất thu nhập trong thời gian một tháng rưỡi, tuy nhiên bị hại vẫn cần có thời gian để điều trị vết thương, nghỉ ngơi nên không thể lao động được, do đó buộc bị cáo phải bồi thường thu nhập thực tế cho bị hại trong thời gian điều trị vết thương, nghỉ ngơi trong thời gian một tuần (07 ngày) với số tiền 3.500.000 đồng (500.000đ/ngày) là có căn cứ.

Đối với khoản tiền tổn thất tinh thần, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tương ứng với 05 tháng lương cơ sở với là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự nên chấp nhận. Đối với số tiền chi phí để sau này làm thẩm mỹ liền sẹo, Hội đồng xét xử xét thấy, đối với yêu cầu này bị hại V không có tài liệu, chứng cứ cũng như các hóa đơn, chứng từ về việc xử lý thẩm mỹ vết sẹo, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của anh V. Hội đồng xét xử tuyên cho anh V quyền khởi kiện vụ án dân sự nếu sau này chứng minh được.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử buộc bị cáo Lê Hữu H phải bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho bị hại V bao gồm: Tiền viện phí: 1.176.000đ; tiền xe chở đi và về: 700.000đ; Tiền công lao động bị thất thoát là: 3.500.000đ; tiền tổn thất tinh thần là 12.150.000đ. Tổng cộng là: 17.526.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Hữu H đồng ý bồi thường cho bị hại V tổng cộng là 23.876.000 đồng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

+ Đối với số tiền 1.000.000₫ mà anh Lê Minh C đã nộp đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện T, theo biên lai thu tiền số 0002165 ngày 25/4/2025. Anh Lê Minh C cho rằng số tiền trên là do bị cáo H tác động anh nộp thay vì vậy, anh đồng ý nộp thay số tiền trên cho bị cáo H nên ghi nhận.

[8.]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ các vật chứng gồm công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Việc xử lý vật chứng được thực hiện theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, cụ thể: Đối với vật chứng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng thì tịch thu tiêu hủy, đối với vật chứng không liên quan đến vụ án thì trả lại cho chủ sở hữu.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Điều 38, Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu H (Mặt S)) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu H (Mặt S) 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (ngày 20/01/2025).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Lê Hữu H phải bồi thường cho anh Nguyễn Hữu V số tiền 23.876.000đ (hai mươi ba triệu, tám trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) mà anh Lê Minh C đã tự nguyện nộp thay cho bị cáo Lê Hữu H tại biên lai thu tiền số 0002165 ngày 25/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận để bồi thường cho anh Nguyễn Hữu V.

Đồ vật, tài sản tạm giữ; xử lý vật chứng:

Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng gồm:

  • - 01 (một) cây dao cán bằng kim loại dài 36cm, đường kính 02cm lưỡi bằng kim loại dài 32cm, rộng 5,5cm, một cạnh mài sắc, đầu nhọn;
  • - 01 (một) đôi dép bằng nhựa, màu vàng có ký hiệu “VIP”;
  • - 01 (một) vỏ chai bia bằng thủy tinh, nhãn hiệu “Miền trung”, bị bể phần đầu, kích thước cao 16cm, đường kính 06cm;

Tuyên trả cho Lê Hữu H:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx, biển số 85E1-262.69, màu đen vàng, số máy: KC34E5034778, số khung: RLHKC4419NY032125.

Toàn bộ vật chứng hiện đang bảo quản tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận theo phiếu nhập kho số: PNK2025/27 ngày 28/4/2025.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Hữu H (Mặt S) phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.193.800đ (một triệu, một trăm chín mươi ba nghìn, tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Thuận Nam;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Ninh Thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Thuận Nam;
  • - Bị cáo, bị hại, người liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Khánh Hưng

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt Lê Hữu H 09 tháng tù về tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger