|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HS-ST
Ngày 25 tháng 3 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Anh; Bà Võ Thị Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Tấn – Thư ký viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 24/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 07/3/2025 đối với bị cáo:
Cao Trí T (tên gọi khác: Tâm C), sinh năm 1994 tại thành phố C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Hòa B và bà Lê Thị Đ; Bị cáo có vợ tên Võ Thị Bích D, đã ly hôn; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 05/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 02/5/2021; Ngày 25/11/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 06 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 06/11/20023. Bị cáo bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực C từ ngày 13/12/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 20/4/2024, tổ công tác 124 Công an thành phố C đang tuần tra trên địa bàn thành phố C. Khi đến trước cổng chùa C2 thuộc khóm C, phường V, thành phố C phát hiện Cao Trí T điều khiển xe mô tô, biển số 61FH – 5993 chở Trần Văn S đang dừng xe trước cổng chùa có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác tiến hành kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an đến T liền ném xuống đường một kéo cắt bằng kim loại màu trắng và một bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có một bọc nylon trong suốt, hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T cùng tang vật.
Quá trình điều tra xác định: Cao Trí T sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2011 cho đến ngày 20/4/2024, nguồn gốc ma túy T mua của người không rõ họ tên, địa chỉ trên địa bàn thành phố C để sử dụng. Khoảng 21 giờ ngày 20/4/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 61FH – 5993 đến hẻm B, đường C thuộc khóm C, phường V, thành phố C gặp Lê Minh T1 (tên gọi khác là Q), sinh năm 2001, cư trú tổ A, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, T1 đồng ý bán và đưa cho T 01 bọc nylon trong suốt bên trong chứa tinh thể màu trắng. Sau khi nhận bọc ma túy T để vào trong bao thuốc lá hiệu Jet cất giấu vào túi quần Jean, phía trước, bên phải của T đang mặc và điều khiển xe về nhà thì T gặp Trần Văn S (bạn cùng xóm với T) đang tìm xe chở đi bán gà, thấy vậy nên T chở S đi tìm chỗ bán. Khi cả hai đi đến trước cổng chùa C2 thì T và S gặp Trần Minh C1 là khách hỏi mua gà, T và S dừng xe lại cho C1 xem gà nhưng C1 không đồng ý mua nên T và S chuẩn bị điều khiển xe chạy đi nên lực lượng Công an thành phố C đến kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an, T xuống xe móc trong túi quần ra một cây kéo bằng kim loại và một bao thuốc lá hiệu Jet ném xuống đường, ngay chỗ T đứng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang và vật chứng, xe mô tô. Ngày 10/12/2024, T bị khởi tố, điều tra.
Kết luận giám định số 588/KL-KTHS ngày 05/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu M gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3935 gam.
Cáo trạng số: 24/CT-VKSCĐ ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Cao Trí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử,
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Cao Trí T từ 06 năm đến 07 năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong phong bì ghi vụ số 588/KL-KTHS ngày 05/5/2024 cùng 01 bao thuốc lá hiệu Jet, 01 bọc nylon trong suốt; Tịch thu phát mãi, sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 61FH – 5993.
Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, Cao Trí T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, xử lý vật chứng và tài sản bị thu giữ. Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
-
[2] Về trách nhiệm hình sự: Ngày 20/4/2024, bị cáo Cao Trí T thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3935 gam để sử dụng. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Đối với Lê Minh T1 đã bán ma túy cho bị cáo, hiện T1 đã chết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
-
[3] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
M (tên gọi khác: ma túy đá) là một trong các chất ma túy gây nghiện nguy hiểm, Nhà nước cấm tổ chức sử dụng, mua bán, tàng trữ bằng mọi hình thức, bởi nó hủy hoại sức khỏe và tinh thần của người sử dụng, làm mất khả năng lao động, học tập, làm rối loạn hành vi, làm tiêu tán tài sản, phá vỡ hạnh phúc gia đình, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và tội phạm hình sự khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của bản thân, biết rõ hành vi trên là vi phạm pháp luật, gây ra các hậu quả xấu cho xã hội, bởi chính bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và bị xử phạt tù về hành vi phạm tội này. Lẽ ra, sau khi chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo phải tìm công việc phù hợp để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, sống có ích cho xã hội nhưng ngược lại, bị cáo không có trách nhiệm với bản thân và gia đình, thích thể hiện bản lĩnh nên tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội bằng việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
-
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo đề nghị truy tố là có căn cứ.
-
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thuộc trường hợp người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt cho bị cáo.
-
[6] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc các vật chứng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xử lý như sau: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi vụ số 588/KL-KTHS ngày 05/5/2024 (bên trong có chất ma túy còn lại sau giám định) cùng 01 bao thuốc lá hiệu Jet, 01 bọc nylon trong suốt; Tịch thu phát mãi, sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 61FH – 5993 là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.
-
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Cao Trí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
-
[1] Về hình phạt: Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Cao Trí T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2024.
-
[2] Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ghi vụ số 588/KL-KTHS ngày 05/5/2024 (bên trong có chất ma túy còn lại sau giám định); 01 bao thuốc lá hiệu Jet, 01 bọc nylon trong suốt;
Tịch thu phát mãi, sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô kiểu dáng Wave màu đen, biển số 61FH – 5993.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
-
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Nam |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 20/4/2024, bị cáo Cao Trí T thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3935 gam để sử dụng.
