|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 25-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Bà Lý Thị Thiên Nga
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Quỳnh Trang - Thư ký Toà án nhân dân
quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên toà: Ông Bùi Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 90/2024/HSST-QĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Đức T, sinh ngày 25/3/2004 tại Nam Định. Nơi ĐKTT: Thôn V (Xóm A cũ), xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: Số B L, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Sinh Viên; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/11/2024; có mặt.
- Bị hại:
1. Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 2004; nơi thường trú tại: T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi ở hiện nay: Số B L, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
2. Anh Nguyễn Tri Chí H1, sinh năm 2004; nơi thường trú tại: Xóm A, thôm A, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nơi ở hiện nay: Số A Đ, phường K, Quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt;
3. Anh Hoàng Văn S, sinh năm 2004; nơi thường trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; nơi ở hiện nay: Số B L, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6/2024, Trần Đức T thuê phòng trọ tại số B L, Đ, Ngô Q, Hải Phòng cùng với anh Nguyễn Tri Chí H1, sinh năm 2004; nơi thường trú: Xóm A, thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận; anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 2004, nơi thường trú: T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; anh Hoàng Anh S1, sinh năm 2004, nơi thường trú: Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam để tiện đi học và đi làm.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12/10/2024, anh H1, anh H, anh S1 đi làm, chỉ còn một mình T ở lại phòng trọ. Do bản thân đang thiếu tiền chi tiêu, khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, lợi dụng phòng trọ không có ai, Trần Đức T đã lén lút lấy 01 laptop màu trắng bạc nhãn hiện Acer Aspire A315 của anh H để trên giát giường trải chiếu tại góc trái phòng ngủ, 01 laptop màu đen nhãn hiệu Acer Nitro 5 AN515-55 của anh H1 và 01 laptop màu trắng bạc nhãn hiệu Asus Vivobook 14 X1404VA của anh S1 để trên bàn học ở góc phải phòng ngủ, cho vào balo và mang sang nhà trọ của bạn là anh Hồ Xuân P, sinh năm 2002, nơi thường trú: xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An hiện đang ở tại số B Kênh D, phường K, Quận L, thành phố Hải Phòng gửi nhờ, mục đích để bán sau. T không nói với anh P đây là tài sản trộm cắp. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, anh H, anh S1, anh H1 đi làm về phát hiện bị mất laptop và có hỏi T nhưng T trả lời không biết.
Ngày 15/10/2024, anh H, anh S1, anh H1 đến Công an Quận N để trình báo sự việc trên. Do biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên khoảng 12 giờ cùng ngày, T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận N đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp lại 03 laptop nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTS ngày 07/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân Quận N, kết luận: 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu Acer Nitro 5 AN515-55, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị xâm hại chiếc máy tính trên trị giá 10.060.000 đồng; 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu Acer Aspire A315, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị xâm hại chiếc máy tính trên trị giá 6.005.000 đồng; 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu Asus Vivobook 14 X1404V A, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị xâm hại chiếc máy tính trên trị giá 12.427.000 đồng. Tổng giá trị của các tài sản nêu trên đến thời điểm bị xâm hại có giá 28.492.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Đức T khai nhận nội dung hành vi phạm tội như trên. Lời khai nhận tội của Trần Đức T phù hợp với lời khai của bị hại, người làm
chứng, biên bản nhận dạng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Việc xử lý vật chứng: 01 laptop màu đen nhãn hiệu Acer Nitro 5 AN515-55 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Tri Chí H1; 01 laptop màu trắng bạc nhãn hiệu Asus Vivobook 14 X1404VA là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Hoàng A Sỷ và 01 laptop màu trắng bạc nhãn hiện Acer Aspire A315 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Ngọc H. Ngày 15/11/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 3185/QĐ-ĐCSHS trả lại các tài sản trên cho anh H1, anh S1, anh H.
Về dân sự: Các bị hại đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về mặt dân sự.
Tại Cáo trạng số 27/CT-VKSNQ ngày 20/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng, phù hợp với hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Tri Chí H1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Xử phạt bị cáo Trần Đức T với mức án từ 24 đến 30 tháng tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự công an Quận N, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
- Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục.
- Miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo do bị cáo vẫn đang đi học, không có công việc tạo ra thu nhập cá nhân, bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: 01 laptop màu đen nhãn hiệu Acer Nitro 5 AN515-55 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Tri Chí H1; 01 laptop màu trắng bạc nhãn hiệu Asus Vivobook 14 X1404VA là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Hoàng A Sỷ và 01 laptop màu trắng bạc nhãn hiện Acer Aspire A315 là tài sản thuộc quyền
sở hữu của anh Nguyễn Ngọc H. Ngày 15/11/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 3185/QĐ-ĐCSHS trả lại các tài sản trên cho bị hại là anh H1, anh S1 và anh H nên không xem xét giải quyết.
- Về dân sự: Các bị hại đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về mặt dân sự.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N; Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Ngọc H và anh Hoàng A Sỷ vắng mặt, không có lý do nhưng trước đó, tại Cơ quan điều tra họ đã có lời khai thể hiện ý kiến và đã giải quyết xong phần dân sự nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh:
+ Về căn cứ xác định bị cáo có tội:
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, lời khai thể hiện: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 12/10/2024, tại phòng trọ số B L, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng, Trần Đức T có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 laptop màu đen nhãn hiệu Acer Nitro 5 AN515-55 của anh Nguyễn Tri Chí H1; 01 laptop màu trắng bạc nhãn hiệu Asus Vivobook 14 X1404VA của anh Hoàng A Sỷ và 01 laptop màu trắng bạc nhãn hiện Acer Aspire A315 của anh Nguyễn Ngọc H nhằm mục đích để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Tại Kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTS ngày 07/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân Quận N, kết luận: 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu Acer Nitro 5 AN515-55, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị xâm hại chiếc máy tính trên trị giá 10.060.000 đồng; 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu Acer Aspire A315, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị xâm hại chiếc máy tính trên trị giá 6.005.000 đồng; 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu Asus Vivobook 14 X1404V A, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị xâm hại chiếc máy tính trên trị giá 12.427.000 đồng. Tổng giá trị của các tài sản nêu trên đến thời điểm bị xâm hại có giá 28.492.000 đồng.
Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[4] Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
+ Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, bị cáo đã tự nguyện đến Cơ quan điều tra nhận tội sau khi sự việc được trình báo, đồng thời các bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do đó bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Về áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo:
[7] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội.
Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là không lớn; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hiện đang là sinh viên năm thứ 3 năm của trường Đại học H2 nên không cần thiết phải buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà chỉ cần áp dụng biện pháp cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để răn đe cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự.
+ Về áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo:
[8] Xét bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo Trần Đức T theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự nhưng phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
+ Về biện pháp ngăn chặn:
[9] Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Đức T.
Việc thực hiện nghĩa vụ, xử lý vi phạm, giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự không được xuất cảnh.
+ Về xử lý vật chứng:
[10] Về vật chứng vụ án: 01 laptop màu đen nhãn hiệu Acer Nitro 5 AN515-55 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Tri Chí H1; 01 laptop màu trắng bạc nhãn hiệu Asus Vivobook 14 X1404VA là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Hoàng A Sỷ và 01 laptop màu trắng bạc nhãn hiện Acer Aspire A315 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Ngọc H. Ngày 15/11/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 3185/QĐ-ĐCSHS trả lại các tài sản trên cho anh H1, anh S1, anh H.
Về dân sự: Các bị hại đã được nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu gì về mặt dân sự.
- Về án phí:
[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về quyền kháng cáo:
[12] Bị cáo và các bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản;
Xử phạt bị cáo Trần Đức T 24 (hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự công an Quận N, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo Trần Đức T nhưng phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Đức T.
Trong trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự như sau:
- “1. Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
- 2. Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan
- 3. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
- 4. Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án”.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Đức T và bị hại anh Nguyễn Tri Chí H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Nguyễn Ngọc H và anh Hoàng Anh S1 vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đức T trộm cắp tài sản
