Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ

TỈNH QUẢNG NAM

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày: 24/06/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Võ Nam Phước
  • - Bà Nguyễn Thị Mừng

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Trang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố tại phiên tòa:

Bà Võ Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 06 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh Q; sinh ngày 01 tháng 01 năm 2006, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn C (sinh năm 1974) và bà: Nguyễn Thị Ngọc V (sinh năm 1984), hiện làm công nhân và trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ,tỉnh Quảng Nam; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; Biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị tạm giữ ngày 21/3/2025, chuyển tạm giam ngày 30/3/2025. hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện Đ; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Sư V1, sinh năm 1981
  2. Bà Trương Thị Á, sinh năm 1990
  3. Bà Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1964

Cùng địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trương Thị T, sinh năm 1970

Địa chỉ: thôn Hà Dục Đông, xã Đại Lãnh, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam

  1. Ông Trần Đ, sinh năm 1987

Địa chỉ: thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

  1. Bà Lương Thị Thu V2, sinh năm 1980

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam

(Ông V1, bà K, bà Á, bà T, bà V2 có đơn xin vắng mặt, và ông Đ vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 16/03/2025, Nguyễn Thanh Q đi bộ đến nhà cậu ruột là ông Nguyễn Sư V1 tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Khi đi đến sân nhà, Q nhìn thấy xe mô tô hiệu DREAM, loại xe FAMYLA, BKS 92F6-2654 của ông V1 có gắn sẵn chìa khoá nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Quan sát thấy ông V1 cùng gia đình đang ở trong nhà nên Q lén lút dắt xe ra khỏi cổng rồi điều khiển xe chạy đến điểm thu mua phế liệu của bà Trương Thị T tại thôn H, xã Đ, huyện Đ. Biết bà T và bà Nguyễn Thị Ngọc V (mẹ ruột của Q) có mối quan hệ quen biết nên Q nói dối rằng xe mô tô trên là của bà V và có nhu cầu bán. Bà T đồng ý mua với giá 800.000 đồng. Trên đường đi bộ về nhà, Q phát hiện tại hiên nhà bà Trương Thị Á (trú cùng thôn) có 01 xe mô tô hiệu YAMAHA, loại xe TAURUS, BKS 73L1-7020, trên xe gắn sẵn chìa khoá. Q mở cổng đi vào dắt xe mô tô ra rồi điều khiển xe đi thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 16 giờ ngày 17/03/2025, Q điều khiển xe về lại thôn T, xã Đ, sau đó, mang đến tiệm sửa xe máy của ông Trần Đ tại thôn H, xã Đ, huyện Đ. Q nói dối xe mô tô của Q bị mất giấy tờ và cần cầm cố để mượn số tiền 700.000 đồng vào thăm ba đang bị đau tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đ đồng ý cho Q mượn số tiền 700.000 đồng và giữ lại xe, đồng thời cho riêng Quân số tiền 200.000 đồng. Sau đó, ông Đ dùng điện thoại di động ghi lại hình ảnh Q cùng xe mô tô BKS 73L1-7020 làm chứng cứ. Sau khi bán xe, Q về lại phía sau nhà ông Nguyễn Sư V1 để ngủ. Đến khoảng 08 giờ ngày 19/03/2025, Q đi vào phòng ngủ nhà ông V1 tiếp tục lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A06 của bà Nguyễn Thị Thúy K (là bà ngoại của Q) rồi mang đến tiệm mua bán điện thoại của chị Lương Thị Thu V2 bán được số tiền 1.300.000 đồng. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ông Nguyễn Sư V1, bà Trương Thị Á và bà Nguyễn Thị Thúy K có đơn trình báo sự việc đến Công an xã Đ. Qua xác minh, Công an xã Đ triệu tập Nguyễn Thanh Q lên làm việc. Tại đây, Q khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp các tài sản trên và bán được số tiền 3.000.000 đồng. Q đã tiêu xài cá nhân hết số tiền 450.000 đồng và tự nguyện giao nộp cho Công an số tiền còn lại 2.550.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 26/03/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận giá trị của 01 xe mô tô nhãn hiệu FAMYLA, loại xe Dream, biển kiểm soát 92F6-2654, xe đã qua sử dụng có giá trị 1.000.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Taurus, biển kiểm soát 73L1-7020, xe đã qua sử dụng có giá trị 2.500.000 đồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy A06 màu bạc, 128 GB có giá trị là 2.100.000 đồng

* Vật chứng vụ án thu giữ:

  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Famyla, loại xe Dream, biển kiểm soát 92F6-2654;
  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Taurus, biển kiểm soát 73L1-7020;
  • + 01 điện thoại Samsung Galaxy A06 màu bạc, 128 GB.

* Về dân sự: Các bị hại Nguyễn Sư V1, Trương Thị Á và Nguyễn Thị Thúy K đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 30/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội đối với bị cáo Q và áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại hồ sơ vụ án, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai về diễn biến vụ trộm cắp tài sản do bị cáo Q thực hiện như nội dung lời khai của bị cáo đã được mô tả tại cáo trạng. Các bị hại Nguyễn Sư V1, Trương Thị Á và Nguyễn Thị Thúy K đã nhận lại tài sản bị mất và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Thị T và Lương Thị Thu V2 xin nhận lại số tiền đã trả cho bị cáo, riêng ông Trần Đ từ chối nhận lại số tiền đã trả khi bị cáo cầm cố xe máy trộm cắp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình mà đã được Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phổ biến về quyền, nghĩa vụ của mình trong từng giai đoạn tố tụng và tự khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp.

[1.2] Các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử là đảm bảo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về tội danh và định khung hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có cơ sở xác định được: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 16/03/2025, Nguyễn Thanh Q đi đến nhà ông Nguyễn Sư V1 thuộc thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu FAMYLA, loại xe DREAM, BKS 92F6-2654 trị giá 1.000.000 đồng. Đến 22 giờ cùng ngày, Q đột nhập vào nhà bà Trương Thị Á ở cùng thôn trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe TAURUS, BKS 73L1-7020 trị giá 2.500.000 đồng. Ngày 19/3/2025, tại nhà ông V1, Q tiếp tục trộm cắp 01 điện thoại di động SAMSUNG GALAXY A06 của bà Nguyễn Thị Thúy K trị giá 2.100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Q chiếm đoạt là 5.600.000 (Năm triệu sáu trăm ngàn) đồng.

Nguyễn Thanh Q là người trưởng thành, có hiểu biết pháp luật, bị cáo nhận thức được rằng quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Nhưng với động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, lén lút trộm cắp tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản của bị hại, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn huyện Đ.

Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Chỉ trong 02 ngày 16 và 19 tháng 3 năm 2025, bị cáo 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, trong đó có 02 lần trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng; riêng ngày 16/3/2025 bị cáo thực hiện hai hành vi trộm cắp liên tục, kế tiếp nhau về thời gian. Các bị hại trong vụ án đều là người thân, người quen biết, cùng nơi cư trú đối với bị cáo. Hành vi của bị cáo thể hiện tính liều lĩnh, bất chấp pháp luật, do đó cần phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc nhằm để răn đe bị cáo và ngăn ngừa tội phạm.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nhận tội; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả cho bị hại, bị cáo cũng đã nộp lại số tiền trộm cắp để trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Thị Thu V2 và Trương Thị T, riêng ông Trần Đ từ chối nhận bồi thường; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Tại hồ sơ vụ án các bị hại Nguyễn Sư V1, Trương Thị Á và Nguyễn Thị Thúy K khai đã được nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[4] Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, xét thấy:

  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Famyla, loại xe Dream, biển kiểm soát 92F6-2654 Yamaha, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Taurus, biển kiểm soát 73L1-7020, đã qua sử dụng; 01 điện thoại Samsung Galaxy A06 màu bạc, 128 GB. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại cho các chủ sở hữu là Nguyễn Sư V1, Trương Thị Á và Nguyễn Thị Thúy K là phù hợp.
  • + Đối với số tiền Ngân hàng N 2.550.000 đồng bị cáo giao nộp để bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, hiện đang được tạm giữ tại tài khoản ngân hàng của Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q, Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Thị T số tiền 800.000 đồng, Lương Thị Thu V2 1.300.000 đồng theo yêu cầu của bà T1 và bà V2.

Ông Trần Đ không yêu cầu nhận lại số tiền 900.000 đồng đã giao cho bị cáo nên không xem xét.

Số tiền còn lại là 450.000 đồng, Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Q theo hướng dẫn tại Công văn số 233/2019/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao.

[5] Về án phí: Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp.

Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền bồi thường thiệt hại cho bà T và bà V2 trước khi xét xử nên không phải chịu án phí dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh Q 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ: ngày 21/3/2025.

  1. Về biện pháp tư pháp:

Tuyên buộc bị cáo Nguyễn Thanh Q chịu trách nhiệm bồi thường cho bà Trương Thị T số tiền 800.000 (Tám trăm ngàn) đồng và bồi thường cho bà Lương Thị Thu V2 số tiền 1.300.000 (Một triệu ba trăm ngàn) đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền 2.550.000 (Hai triệu năm trăm năm mươi ngàn) đồng bị cáo Q đã giao nộp, được tạm giữ tại tài khoản số 39490904639100000 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Q vào ngày 13/5/2025. Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thanh Q số tiền còn lại là 450.000 (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

Ông Trần Đ không yêu cầu nhận lại số tiền 900.000 (Chín trăm ngàn) đồng đã giao cho bị cáo nên không xem xét.

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Q phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Q.Nam
  • - VKSND H. Đ
  • - Công an H
  • - Chi cục THADS H.Đ
  • - Bị cáo, Bị hại
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Ái Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Quân trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger