TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 23-6-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quyết Thắng
Thẩm phán: Ông Chu Văn Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Cương
Bà Nguyễn Thị Vân Hà
Ông Trần Ngọc Đính
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 23/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 04 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: /2023/QĐXXST-HS ngày 22 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Ngọc N (Tên gọi khác: Không). Sinh ngày 31/8/1993, tại: thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi ĐKHKTT: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Dân tộc: Dáy; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: tốt.
Con ông Vàng Văn M (đã chết); Con bà Trần Thị T, sinh năm 1972. Trú tại: thôn T, xã Đ, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có vợ là Phùng Thị Thu H, sinh năm 1992. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2019. Chỗ ở: SN D, ngõ N, tổ A, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 11 năm 2024 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Vàng Ngọc N: Ông Lê Trường S – Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh L. Địa chỉ: Công ty L2 Vỹ, số E, phố S, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
- Bị hại: Công ty cổ phần B. Địa chỉ: 2 K, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Trung K – Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Thu T1 – Địa chỉ: Thôn H, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Phùng Thị thu H – Địa chỉ: Tổ A, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai.(Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian làm nhân viên bán hàng tại công ty TNHH MTV Đ, Vàng Ngọc N đã làm thất thoát khoảng 276 triệu đồng nên công ty yêu cầu Như phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền. Do không vay mượn được tiền, nên N đã nảy sinh ý định đi cướp tài sản để trả nợ. Vì có thời gian làm việc tại cửa hàng F ở địa bàn thành phố L, nên Như nắm được các cửa hàng thường chỉ bố trí một nữ nhân viên kế toán kiêm bán hàng vào buổi tối để kiểm kê tiền rồi mang đến nộp vào tài khoản của công ty mở tại ngân hàng vào sáng hôm sau. Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 28/11/2024, N mang theo 01 con dao bấm gấp, 01 chiếc khẩu trang màu trắng, 01 chiếc áo mưa màu đỏ, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ đen, khoảng 20 đoạn dây rút, một đoạn dây kiểu dây giày và điểu khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, biển kiểm soát: 24V1-099.01 từ nhà ở thuê tại số: D, ngõ N, tổ A, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai đến đoạn đường bao giáp bờ suối phía sau chợ K1, thành phố L thì Như đỗ xe lại, mặc áo mưa, đeo khẩu trang và đội mũ bảo hiểm mục đích để che dấu đặc điểm nhận dạng khi thực hiện hành vi phạm tội, rồi bị cáo đi bộ đến cửa hàng F. Khi vào trong cửa hàng thấy có hai nữ nhân viên nên N giả vờ hỏi về giá đèn sưởi, sau đó đi ra ngoài lấy xe máy đi về nhà mình. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N tiếp tục đi xe máy đến đoạn đường bao giáp bờ suối phía sau chợ K1, rồi lại mặc áo mưa, đeo khẩu trang và đội mũ bảo hiểm, sau đó đi bộ đến cửa hàng F thấy trong cửa hàng chỉ còn chị Trần Thu H1 là nhân viên nên Như đi vào bên trong cửa hàng, hỏi mua đèn sưởi nhà tắm thì được tặng kèm nồi lẩu. Như yêu cầu chị H1 cắm thử điện để kiểm tra, khi chị H1 bê nồi nước nóng thử bếp đi vào nhà vệ sinh để đổ, Như liền đi theo rồi đóng cửa lại và lấy con dao bấm ra giơ mũi dao lên uy hiếp, khống chế chị H1 rồi lấy các đoạn dây rút và dây vải ra bắt chị H1 tự buộc chân của mình lại. Sau khi đã khống chế và nhốt chị H1 trong nhà vệ sinh xong, N cầm theo hộp bìa cát tông ra vị trí tủ trưng bày điện thoại, mở cửa kính lấy được 22 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 65.980.000 đồng của cửa hàng sau đó bỏ chạy theo lối sau cửa hàng ra để lấy xe máy. Trên đường di chuyển, Như đã làm rơi 1 cọc 20 triệu đồng và 1 cọc 28 triệu đồng. Số tiền bị rơi trên đường, chị Đỗ Khánh L và chị Trần Quỳnh L1, cùng trú tại: tổ B, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai là những người nhặt được và giao nộp cho cơ quan điều tra. Khi về đến chợ K1, Như vứt lại mũ bảo hiểm, khẩu trang, áo mưa và ném con dao gấp bấm xuống suối Ngòi Đum. Sau đó lấy xe máy mang theo tài sản vừa chiếm đoạt được đi về nhà. Ngay tối hôm đó Như bắt xe đi Hà Nội, trong lúc chờ xe đến đón N đếm lại số tiền chiếm đoạt được còn lại là 16.464.000 đồng và cầm theo 22 chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được cho vào ba lô đi xe khách về ngủ tại nhà nghỉ gần bến xe M. Sáng ngày 29/11/2024 Như mang 22 chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được đi tìm cửa hàng để bán thì bị Công an phường M, quận N, thành phố Hà Nội kiểm tra, phát hiện đưa về trụ sở làm việc, Như đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội .
Ngày 03/12/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố L, tỉnh Lào Cai ban hành Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG Kết luận 22 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max và 16 Pro M có tổng trị giá tại thời điểm tháng 11/2024 là 817.780.000 đồng.
Bản cáo trạng số 17/CT-VKS-P2, ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Vàng Ngọc N về tội "Cướp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vàng Ngọc N phạm tội "Cướp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Ngọc N từ 16 năm đến 18 năm tù về tội “Cướp tài sản”.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 15 năm đến 16 năm tù về tội “Cướp tài sản”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Do không có tiền để trả cho các khoản nợ, nên bị cáo đã nảy sinh ý định đi cướp tài sản. Khoảng 19 giờ ngày 28/11/2024, Bị cáo mang theo một con dao bấm gấp, 01 chiếc khẩu trang màu trắng, 01 chiếc áo mưa màu đỏ, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ đen, khoảng 20 đoạn dây rút, một đoạn dây kiểu dây giày rồi điều khiển xe máy đến đoạn đường giáp bờ suối phía sau chợ K1, thành phố L. Sau đó bị cáo đỗ xe lại, mặc áo mưa, đeo khẩu trang và đội mũ bảo hiểm rồi đi bộ đến cửa hàng F, sử dụng con dao uy hiếp, khống chế nhân viên bán hàng lâm vào tình trạng không thể chống cự được, rồi chiếm đoạt 22 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 65.980.000 đồng .
Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên”. Như vậy thấy rằng, Cáo trạng số 17/CT-VKS-P2 Lào Cai, ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 168 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về trách nhiệm hình sự:
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội
Bị cáo Vàng Ngọc N là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật. Nhưng do muốn có tiền để trả nợ và tiêu sài cá nhân một cách bất hợp pháp, nên đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với số tiền là 883.760.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; hành vi đó gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật.
- Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục hậu quả; Đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Ngoài ra, xét thấy bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu; Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Bị cáo là lao động chính trong gia đình; Bố chết, mẹ đẻ thường xuyên ốm đau phải đi điều trị, vợ bị cáo không có việc làm ổn định, hiện cũng phải thường xuyên đi điều trị tại bệnh viện; không có nhà ở và nuôi 02 con nhỏ (Con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2019).
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có đủ điều kiện được áp dụng Điều 54 của BLHS xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, phù hợp với mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát; người bào chữa đã đề nghị, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Cũng đủ tác dụng giáo dục, dăn đe, đấu tranh phòng chống tội phạm.
- Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với đối bị cáo.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận đủ tài sản nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
- Về vật chứng của vụ án:
- - 01 (một) sợi dây buộc bằng vải màu đen; Nhiều dây buộc bằng nhựa màu đen; 01 (một) chiếc áo mưa bằng vải nilon màu đỏ, mặt sau áo mưa có dòng chữ “NESCAFE”; 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ đen nhãn hiệu Amby HELMET; 01 búa đập kính có cán bằng nhựa màu vàng cam, phía trên có 2 đầu nhọn bằng kim loại; 01 dao cắt kính bằng kim loại, cán màu ghi xám, có khắc chữ TC-17 TOYO JAPAN; 02 dây thít bằng nhựa màu đen. Xét thấy là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tich thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn: trắng đỏ, biển kiểm soát 24V1-099.01, số khung: RLCUG0610FY057511, số máy: G3D4E064311, dung tích xi lanh: 149 cm³ xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong máy. Đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Đối với 01 tai nghe đề tên dây nhét tai REMAX RM-670 Đen (nguyên hộp chưa qua sử dụng); 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu APPLE Iphone 11 promax, dung lượng 64GB, màu vàng, số imei: 352853112490905 điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y33s, màu xanh, có số imei: 860993057757051 điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong. Đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo theo đúng quy định.
- Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố các bị cáo Vàng Ngọc N phạm tội "Cướp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 168; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Ngọc N 16 (mười sáu) năm tù về tội “Cướp tài sản”.
Thời hạn chấp hành án phạt tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/11/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- * Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) sợi dây buộc bằng vải màu đen; Nhiều dây buộc bằng nhựa màu đen; 01 (một) chiếc áo mưa bằng vải nilon màu đỏ, mặt sau áo mưa có dòng chữ “NESCAFE”; 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ đen nhãn hiệu Amby HELMET; 01 búa đập kính có cán bằng nhựa màu vàng cam, phía trên có 2 đầu nhọn bằng kim loại;
- 01 dao cắt kính bằng kim loại, cán màu ghi xám, có khắc chữ TC-17 TOYO JAPAN;
- 02 dây thít bằng nhựa màu đen;
- * Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn: trắng đỏ, biển kiểm soát 24V1-099.01, số khung: RLCUG0610FY057511, số máy: G3D4E064311, dung tích xi lanh: 149 cm³ xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong máy;
- * Trả lại cho bị cáo Vàng Ngọc N:
- 01 tai nghe đề tên dây nhét tai REMAX RM-670 Đen (nguyên hộp chưa qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu APPLE Iphone 11 promax, dung lượng 64GB, màu vàng, số imei: 352853112490905 điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong;
- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y33s, màu xanh, có số imei: 860993057757051 điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong.
(Các vật chứng được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng số 36 ngày 21/04/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Cục thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai).
- * Tịch thu tiêu hủy:
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vàng Ngọc N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quyết Thắng |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về cướp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vàng Ngọc N phạm tội cướp tài sản
