|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 21/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thái Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Biên, ông Đào Xuân Thịnh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 139/2024/HSST ngày 10 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 12/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2024/QÐST-HS ngày 30/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QÐST-HS ngày 22/01/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Minh N, sinh năm 1938 tại huyện Y (nay là thành phố B); Tên gọi khác: Hoàng N1; giới tính: Nam; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/10; con ông Hoàng Văn N2 và con bà Nguyễn Thị T; vợ là Đào Thị S (đã chết); có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1962, con nhỏ nhất sinh năm 1976; tiền án; Tiền sự: Không; nhân thân: Năm 1976 bị Toà án nhân dân tỉnh Hà Bắc xử phạt 04 tháng tù về tội “Chứa chấp tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa”; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- * Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Trọng N3 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt).
- * Bị hại: Chị Lại Thị L, sinh năm 1976 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- * Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Giáp Thị H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt).
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Xuân T1, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- * Người làm chứng:
- - Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- - Ông Trần Văn O, sinh năm 1964 (vắng mặt)
- - Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1964 (vắng mặt)
- - Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1995 (vắng mặt)
- - Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Minh N (tên gọi khác: Hoàng N1) có con dâu là chị Lại Thị L. Nhà N4 và nhà chị L ở sát nhau, chung nhau sân và cổng ra vào, trong quá trình sinh hoạt hai bên có xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại với nhau. Khoảng 14 giờ ngày 13/01/2018, Hoàng Minh N đi ra sân nhà lấy các lõi cây tre (phoi tre) để phơi khô đun nước tắm. N sử dụng 01 con dao bằng kim loại dài 47,8cm, chuôi dao bằng gỗ dài 14,4cm, đường kính 3cm, chỗ rộng nhất 5cm ngồi vót nan tre ở sân nhà thì chị Lại Thị L đứng trên hiên nhà chị L có lời nói xuống nên 2 bên xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau. Do bực tức nên N cầm con dao đang dùng để vót nan tre chạy đến chỗ chị L thì chị L chạy vào trong nhà đóng cửa lại, N chạy ra khu vực cửa nách (cửa phụ) nhà chị L dùng chân đạp bật mở cánh cửa rồi lao vào trong nhà. Thấy vậy, chị L lấy 01 chiếc gậy gỗ có cạnh vuông dài 1,47 m, rộng 3cm, dày 3cm vụt về phía N thì Ngọc G cánh tay trái lên đỡ rồi tiến đến thì chị L vụt tiếp 02 cái trúng vào người N. Lúc này, N dùng tay trái giữ được chiếc gậy rồi cầm con dao ở tay phải chém 01 phát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào ngực bên trái chị L rồi N chém tiếp 01 nhát theo hướng từ phải qua trái thì chị L dơ tay trái lên đỡ, Ngọc tiến đến dùng tay trái túm tóc chị L kéo xuống làm chị L ngã xuống đất, N dùng chân đạp vào bụng chị L rồi dùng dao chém 01 nhát trúng vào mu bàn tay trái chị L, chị L dùng tay trái túm được con dao trên tay N nên đứng dậy giằng co con dao, du đẩy N ra phía ngoài sân và hô hoán mọi người đến. Khi ra đến sân thì N bị ngã xuống đất nên chị L bỏ chạy ra ngoài cổng rồi được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Y, sau đó được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị từ ngày 13/01/2018 đến 22/01/2018 ra viện. Chị L bị thương tích: Vết thương vùng ngực trái khoang liên sườn II, III, IV, đường giữa đòn trái, kích thước 10 x 5cm, phì phò máu, khí. Vết thương mu bàn tay trái trên kích thước 12 x 3cm chảy máu, không duỗi được ngón I trái, vết thương kéo dài từ mặt trước đến mặt sau. XQ: Tràn khí dưới da thành ngực trái, còn S1 dẫn lưu màng phổi trái.
Ngày 14/01/2018, N đến Bệnh viện đa khoa huyện Y điều trị đến ngày 20/01/2018 ra viện, với thương tích: Cẳng tay (T) sưng nề, bầm tím kích thước (3x10)cm, có 03 vết chợt da kích thước (1 x 2) cm, không chảy máu; vùng chẩm có vết sượt da dài 3cm, không chảy máu; Lưng (T) bấm tím, gãy cung sau xương sườn 6 (T).
Sau khi tiếp nhận tin báo, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, phát hiện ở hiên và nền nhà 2 tầng có nhiều dấu vết mầu nâu đỏ, dạng nhỏ giọt nghi là máu người nên đã dùng bông thấm hút cho vào phong bì thư niêm phong có đóng dấu của Công an xã Đ; thu giữ tại hiện trường 01 đôi dép nhựa màu trắng, dạng dép tổ ong in chữ số 43, phía trên bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu; 01 gậy gỗ dài 1,47 m, cạnh (3 x 3) cm, có bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu.
Cùng ngày cơ quan điều tra đã thu giữ của Hoàng Minh N 01 con dao bằng kim loại, dài 47,8 cm, phần rộng nhất của lưỡi dao 5cm, chuôi dao bằng gỗ dài 14,4 cm, phần chuôi dao và lưỡi dao có bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu người.
Tại cơ quan điều tra Hoàng Minh N khai: Do bực tức vì bị chị L chửi nên N cầm con dao đang vót nan đi đến vị trí chị L đứng để nói chuyện, khi N đi đến thì bị chị L dùng gậy gỗ vụt vào tay, vào đầu, vào người N làm N ngã ra đất bất tỉnh. N không dùng dao gây thương tích cho chị L.
Chị Lại Thị L khai: Khi thấy N ném đoạn tre vào thau ở trước cửa nhà N thì chị L nói “bẹp giúm rồi”, N liền chửi chị và cầm dao chạy đến nên chị S2 chạy vào trong nhà đóng cửa chính lại thì N đạp bật cửa nách xông vào nhà, dùng dao chém vào ngực, vào tay chị, chị giữ được con dao nên giằng co du đẩy N ra ngoài rồi chạy ra cổng thì được mọi người đến đưa đi cấp cứu. Chị không dùng gậy đánh N.
Trong các ngày 28/02/2018 và 15/3/2018, Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của chị L và N theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 8140/18/TgT, ngày 01/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với chị L1 thị L, kết luận:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Thương tích vết sẹo vùng ngực trái + 02 sẹo mổ dẫn lưu + rách nhu mô phổi vùng đỉnh + X-quang: Không thấy tổn thương xương lồng ngực. Hình tim phổi hiện tại bình thường: 12%.
- Thương tích vết sẹo cổ tay trái: 1%.
- Thương tích vết sẹo mu bàn tay trái + Vết sẹo mổ + X-quang; Gãy đầu xa xương bàn I bàn tay trái + Khám thần kinh, vận động: Đứt gân gấp duỗi ngón I bàn tay trái bán phần ảnh hưởng đến động tác gấp duỗi ngón I bàn tay trái mức độ nhiều: 12%;
2. Kết luận: Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số: 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 23%.
3. Kết luận khác:
- Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích do vật sắc gây nên.”
Tại Bản kết luận giám định số 8155/18/TgT, ngày 19/3/2018 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B đối với Hoàng Minh N, kết luận: Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể của ông Hoàng Minh N do thương tích gây nên hiện tại là: 6%. Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích do vật tày gây nên.
Ngày 18/4/2018, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho chị Lại Thị L và Hoàng Minh N nhận dạng đối với con dao và chiếc gậy gỗ thu giữ. Kết quả chị L nhận ra con dao thu giữ của N là con dao N đã sử dụng gây thương tích cho chị. Cùng ngày, cơ quan điều tra đã thu giữ mẫu tóc của chị Lại Thị L và Hoàng Minh N để tiến hành giám định ADN trên dấu vết màu nâu đỏ nghi máu người bám dính trên con dao thu giữ của Hoàng Minh N.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 70/18/TC-ADN ngày 18/5/2018 của V, kết luận:
- “- Vết màu nâu đỏ dính trên con dao gửi giám định là máu người.
- - ADN thu từ mẫu phết vết màu nâu đỏ trên con dao gửi giám định trùng khớp hoàn toàn với ADN của Lại Thị L.”
Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa chị Lại Thị L và Hoàng Minh N, nhưng N không thừa nhận đã gây thương tích cho chị L và chị L không thừa nhận đã dùng gậy gỗ gây thương tích cho N. Ngày 28/6/2018, cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra, kết quả thực nghiệm xác định ở tình huống 1 N cầm dao chém vào các vị trí như chị L khai có thể gây thương tích cho chị L; Ở tình huống 2 chị L cầm gậy vụt vào các vị trí như N khai có thể gây thương tích cho N.
Ngày 28/02/2019, cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định pháp y bổ sung. Tại các bản kết luận giám định pháp y bổ sung số 8714 và 8715 cùng ngày 06/3/2019 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Trên cơ sở kết quả thực nghiệm điều tra, tình huống 1 gây được thương tích cho chị Lại Thị L; Tình huống 2 gây được thương tích cho Hoàng Minh N.
Quá trình điều tra phát hiện chị Lại Thị L có sổ điều trị ngoại trú tâm thần nên ngày 02/10/2024, cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định tâm thần đối với chị Lại Thị L. Tại Bản kết luận giám địnhpháp y tâm thần số 168/KLGĐ ngày 31/10/2024, của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận:
“1. Lại Thị L, sinh năm 1976 ở thôn T, xã Đ, huyện Y bị bệnh: Động kinh không có rối loạn tâm thần.
2. Tại thời điểm ngày 13/01/2018 Lại Thị L bị bệnh: Động kinh không có rối loạn tâm thần. Lại Thị Lâm đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
3. Hiện tại (tại thời điểm giám định) Lại Thị L bị bệnh: Động kinh không có rối loạn tâm thần. Lại Thị Lâm đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi”.
Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 128/CT-VKSYD ngày 30/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay là VKSND thành phố Bắc Giang) truy tố bị cáo Hoàng Minh N về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Hoàng Minh N thừa nhận có việc xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại với chị Lại Thị L vào ngày 13/01/2018, nguyên nhân do chị L đổ nước làm ướt số phoi tre mà bị cáo đang phơi để đun nước tắm. Sau đó chị L có những lời nói thiếu lễ phép, vô văn hóa nên bị cáo không làm chủ được bản thân, bị cáo đã cầm con dao vẫn dùng để vót nan tre đi lên nhà chị L (với mục đích dọa nạt và dạy dỗ chị L). Nhưng chưa kịp đánh chị L thì đã bị chị L lấy gậy gỗ đánh vào đầu, tay, sau khi bị chị L đẩy ngã ra sân, bị cáo ngất đi, không biết sự việc sau đó thế nào. Bị cáo khẳng định không có việc sang đạp phá cửa phụ (cửa nách) nhà chị L để vào chém chị L, bị cáo không được chém vào ngực chị L như Cáo trạng mô tả. Việc chị L bị thương ở tay là do chị L cầm lưỡi dao để giằng co với bị cáo, vết máu trên con dao được Kết luận là máu của chị L là đúng. Bị cáo không có ý kiến gì đối với kết luận giám định của cơ quan chuyên môn. Thời điểm xảy ra xô sát chỉ có hai người là bị cáo và chị L ở tại hiện trường, ngoài ra không còn ai khác. Bị cáo thấy bản thân có một phần lỗi khi để xảy ra sự việc này vì bị cáo bực tức, thiếu kiềm chế nên cầm dao đi sang nhà chị L.
Bị hại là chị Lại Thị L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Xuân T1 và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người này có trong hồ sơ vụ án.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Hoàng Minh N (tên gọi khác: Hoàng N1) và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Hoàng Minh N từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.
- *Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- *Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc gậy gỗ dài 1,47m, có kích thước (3x3)m, trên có bám dính chất mầu nâu đỏ; 01 con dao bằng kim loại dài 47,8cm, chuôi dao bằng gỗ dài 14,4cm, đường kính 3cm, chỗ rộng nhất 5cm; 01 đôi dép nhựa tổ ong màu trắng, trên dép có bám dính chất màu nâu đỏ.
- *Về án phí: Do bị cáo thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- *Người bào chữa cho bị cáo (Trợ giúp viên pháp lý Hoàng Trọng N3) phát biểu quan điểm bào chữa:
- Bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng, không oan vì tại phiên tòa bị cáo đã nhận là có tội.
- Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo vì bị cáo tuổi đã cao, sự việc có phần lỗi của bị hại, hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo là phù hợp và thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng.
- Tuy nhiên đề nghị xem xét hành vi của chị Lại Thị L trong việc gây ra thương tích cho bị cáo, cụ thể:
- + Trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo N là người dùng dao chém chị L trước nhưng không có nhân chứng trực tiếp nên chưa đủ căn cứ chứng minh việc này.
- + Bị cáo cao 1m55; nặng hơn 50kg thì không thể đạp bật then cửa (cửa phụ) nhà chị L được.
- + Thương tích của bị cáo 6%, trong đó có thương tích gẫy xương sườn. Để làm cho bị cáo bị thương tích gẫy xương sườn thì phải có một lực đánh mạnh, chứng tỏ chị L phải là người đánh bị cáo trước vì nếu chị L đã bị chém vào ngực rồi thì không thể có đủ sức để đánh gẫy xương sườn của bị cáo được.
- + Chị L là người đánh bị cáo trước, dùng gậy gỗ (là hung khí nguy hiểm) nên hành vi của chị L đã đủ cấu thành tội cố ý gây thương tích đối với bị cáo.
- + Đề nghị xem xét hành vi của bị cáo có thuộc trường hợp “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” không?
- * Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại (Trợ giúp viên pháp lý Giáp Thị H) trình bày:
- Nhất trí quan điểm luận tội đối với bị cáo của Viện kiểm sát.
- Mức hình phạt đối với bị cáo là nhẹ vì trong sự việc này không có lỗi của bị hại; không có căn cứ chứng minh chị L đánh bị cáo trước; thương tích gẫy xương sườn của bị cáo có thể xảy ra khi bị cáo bị va đập vào bậc thềm, ngã xuống sân nhà chị L.
- Bị cáo không nhận tội nên nếu Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo thì cần xử phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- * Đại diện Viện kiểm sát đối đáp:
- Đối với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Bị cáo thừa nhận nội dung, diễn biến hành vi phạm tội, việc bị cáo cầm dao đi lên nhà chị L; về việc bị cáo đạp bật then cài cửa nhà chị L thì không có gì chứng minh là then cửa này quá chắc chắn, đến mức phải người rất khỏe mới đạp bật được; bị cáo cầm dao là hung khí nguy hiểm nên việc chị L sử dụng gậy gỗ chống trả lại là không vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Việc cơ quan điều tra không xem xét, xử lý trách nhiệm đối với chị Lại Thị L là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Viện kiểm sát không đồng ý với ý kiến của người bào chữa về việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với chị Lại Thị L.
- - Đối với ý kiến của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại:
- + Chính vì bị cáo không thành khẩn khai báo nên Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- + Bị cáo là người già, đang thờ cúng liệt sỹ, tham gia kháng chiến chống Mỹ, hoàn cảnh khó khăn, thường xuyên ốm đau bệnh tật (có giấy tờ đi Viện). Do vậy mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp. Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như đã phát biểu.
- * Bị cáo nhất trí quan điểm của người bào chữa, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận thêm.
- * Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì tranh luận thêm.
- *Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa xét xử vụ án, bị cáo, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về căn cứ xác định bị cáo phạm tội:
Theo các tài liệu điều tra, thu thập trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 14 giờ ngày 13/01/2018, tại nhà ở của chị Lại Thị L ở thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Do mẫu thuẫn trong cách ứng xử, chị L có lời nói thiếu lễ phép nên bị cáo Hoàng Minh N (tên gọi khác: Hoàng N1) - bố chồng của chị L đã có hành vi dùng 01 con dao bằng kim loại (dao dài 47,8cm, chuôi dao bằng gỗ dài 14,4cm, đường kính 3cm, chỗ rộng nhất 5cm) chém 01 nhát vào ngực trái, 01 nhát vào cổ tay trái và 01 nhát vào mu bàn tay trái của chị Lại Thị L gây thương tích 23% đối với chị L.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hoàng Minh N không có ý kiến gì đối với nội dung Cáo trạng truy tố, không xác định được việc bị truy tố là đúng hay là sai, nhưng bị cáo không kêu oan, bị cáo xác nhận là có sự việc giữa bị cáo và chị Lại Thị L có mâu thuẫn, dẫn đến lời qua, tiếng lại và xô sát vào hồi 14 giờ ngày 13/01/2018. Nguyên nhân là do chị L dội nước vào chỗ phoi tre bị cáo đang phơi trên sân nên bị cáo có nhắc nhở chị L. Nhưng chị L lại dùng lời nói vô lễ, thiếu văn hóa, không có đạo đức với bề trên (bố chồng). Bị cáo xác định là có việc bị cáo cầm dao (vật chứng bị thu giữ) đi từ gian nhà bị cáo ở lên nhà chị L với mục đích để dọa nạt và dạy dỗ chị L. Nhưng bị cáo chưa chém được chị L thì đã bị chị L dùng gậy gỗ vụt vào đầu, tay. Bị chị L đánh đau, bị cáo dơ dao lên dọa chị L thì chị L dùng tay túm vào lưỡi dao nên chị L bị thương ở tay, bị cáo nhất trí với nội dung kết luận giám định về vết máu trên con dao là máu của chị L. Bị cáo xác định là có một phần lỗi trong sự việc này vì nóng nảy, thiếu kiềm chế, nhưng bị cáo không thừa nhận việc chém vào ngực và tay của chị L như Cáo trạng mô tả. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng và chính lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện sự việc xảy ra hồi 14 giờ ngày 13/01/2018 tại nhà ở của chị Lại Thị L chỉ có một mình bị cáo và chị L ở hiện trường, ngoài ra không còn ai khác; nguyên nhân xảy ra sự việc là do các bên lời qua tiếng lại, ứng xử không phù hợp nên bị cáo cầm con dao bằng kim loại đi lên nhà chị L để đe dọa chị L. Quá trình điều tra đã xác định con dao trên là vật đã gây ra thương tích cho chị L, dấu vết máu trên lưỡi dao được giám định là máu của chị L, quá trình điều tra bị cáo xác định không bức cung, nhục hình, lời khai tại cơ quan điều tra là tự nguyện, đúng sự thật.
Căn cứ vào dấu vết tại hiện trường, tang vật chứng thu giữ, thương tích trên thân thể người bị hại hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định thương tích; phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm xảy ra vụ án. Sự việc xảy ra giữa ban ngày, thời điểm xảy ra vụ việc trên hiện trường chỉ có 02 người là bị cáo và chị L, ngoài ra không còn có ai khác. Trước đó giữa bị cáo và phía bị hại đã có mâu thuẫn với nhau trong sinh hoạt gia đình vì chị L (là con dâu) nhưng thiếu gương mẫu trong ứng xử với bố chồng, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến vụ việc này. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo xác định là bản thân có phần trách nhiệm, có lỗi trong vụ việc này. Mặc dù bị cáo không thừa nhận toàn bộ nội dung bị truy tố nhưng bị cáo cũng không kêu oan, xét thấy đây là vấn đề do nhận thức của bị cáo.
Do đó đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Minh N chính là người đã có hành vi dùng con dao bằng kim loại (thường sử dụng để vót nan tre) là hung khí nguy hiểm chém vào ngực và tay trái của chị Lại Thị L gây ra thương tích 23% đối với chị L ngày 13/01/2018.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng số 128/KSĐT ngày 30/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay là VKSND thành phố Bắc Giang) truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ (lời nói) trong sinh hoạt hàng ngày mà bị cáo dùng hung khí nguy hiểm (dao kim loại) chém, gây thương tích cho chị Lại Thị L, qua đó thể hiện bị cáo coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác nên cần phải có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người trên 70 tuổi (87 tuổi); là người thờ cúng liệt sỹ (theo Quyết định trợ cấp thờ cúng liệt sỹ số 10.4.49/QĐ-LĐTB&XH ngày 31/12/2013 của Sở Lao động - TB&XH tỉnh B); bị cáo có thời gian tham gia Q trong kháng chiến chống Mỹ; hoàn cảnh bị cáo khó khăn (tuổi già ở một mình), sức khỏe yếu nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xét về nhân thân của bị cáo: Năm 1976 bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Hà Bắc xử phạt 04 tháng tù về tội “Chứa chấp tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa” nhưng bị cáo đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật và theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo được coi là người có nhân thân tốt.
[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát về mức hình phạt thì thấy:
Bị cáo là người già, có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, nguyên nhân xảy ra vụ việc có một phần lỗi của bị hại; bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (một tình tiết tại khoản 1, hai tình tiết tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự), không phải chịu tình tiết tăng nặng. Căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (được sửa đổi bổ sung một số điều tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo). Xét thấy bị cáo Hoàng Minh N có đủ điều kiện được hưởng án treo và chỉ cần cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo về việc xử lý trách nhiệm đối với chị Lại Thị L thì thấy:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa xét thấy không có căn cứ để xác định chị L là người dùng gậy gỗ đánh bị cáo trước. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã cho bị cáo và chị L đối chất nhưng không làm rõ được nội dung này; lời khai của tất cả người làm chứng cũng chỉ xác định được hành vi giằng co giữa bị cáo và chị L khi đã xảy ra việc chị L bị bị cáo chém, không có ai chứng kiến việc chị L đánh bị cáo như thế nào. Như vậy, việc chị L sử dụng gậy gỗ để chống trả lại việc bị cáo (đang cầm dao) đe doạ, xâm phạm đến sức khoẻ là trong tình thế cấp thiết. Việc Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với chị Lại Thị L là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của người bào chữa cho bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Lại Thị L không yêu cầu bị cáo bồi thường nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét, giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 con dao bằng kim loại dài 47,8cm, chuôi dao bằng gỗ dài 14,4cm, đường kính 3cm, chỗ rộng nhất 5cm. Vật chứng này là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Đối với 01 chiếc gậy gỗ dài 1,47m, có kích thước (3x3)m, trên có bám dính chất mầu nâu đỏ; 01 đôi dép nhựa tổ ong màu trắng, trên dép có bám dính chất màu nâu đỏ là vật chứng liên quan trong vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
[9] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 125; Điều 292; Điều 293; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Hoàng Minh N (tên gọi khác: Hoàng N1) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Cố ý gây thương tích”, phải chịu thời gian thử thách là 05 (năm) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/02/2025. Giao Hoàng Minh N (tên gọi khác: Hoàng N1) cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
* Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với Hoàng Minh N (tên gọi khác: Hoàng N1).
2. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại dài 47,8cm, chuôi dao bằng gỗ dài 14,4cm, đường kính 3cm, chỗ rộng nhất 5cm; 01 chiếc gậy gỗ dài 1,47m, có kích thước (3x3)m, trên có bám dính chất mầu nâu đỏ; 01 đôi dép nhựa tổ ong màu trắng, trên dép có bám dính chất màu nâu đỏ.
3. Về án phí:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hoàng Minh N (tên gọi khác: Hoàng N1).
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Sơn |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 14 giờ ngày 13/01/2018, tại nhà ở của chị Lại Thị Lâm ở thôn Thanh Vân, xã Đức Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Do mẫu thuẫn trong cách ứng xử, chị Lâm có lời nói thiếu lễ phép nên bị cáo Hoàng Minh Ngọc (tên gọi khác: Hoàng Ngọt) - bố chồng của chị Lâm đã có hành vi dùng 01 con dao bằng kim loại (dao dài 47,8cm, chuôi dao bằng gỗ dài 14,4cm, đường kính 3cm, chỗ rộng nhất 5cm) chém 01 nhát vào ngực trái, 01 nhát vào cổ tay trái và 01 nhát vào mu bàn tay trái của chị Lại Thị Lâm gây thương tích 23% đối với chị Lâm.
