|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HS-ST
Ngày: 21 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Hà và bà Đỗ Thị Vân.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Đức M (tên gọi khác Trần Văn M1), sinh năm 1989 tại Hà Nam; đăng ký thường trú: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T và bà Hà Thị H; có vợ là Vũ Thị D (đã ly thân) và có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/4/2018, bị Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành án xong ngày 17/5/2019.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/12/2024 đến ngày 06/01/2025 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- 1. Bà Hà Thị H, sinh năm 1966; nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.
- 2. Anh Đỗ Văn S, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn E, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
Người tham gia tố tụng khác (Người làm chứng): Bà Trần Thị D1 và chị Lê Thị P; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 28/12/2024, Đỗ Văn S sử dụng điện thoại di động số thuê bao 0386.436.004 gọi đến số thuê bao 0964.334.563 của Trần Đức M hỏi mua 500.000 đồng ma túy, loại Heroine thì M đồng ý và hẹn S đến khu vực nghĩa trang G cầu M thuộc thôn C M, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam để giao dịch. Nghe điện thoại xong M điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát (BKS) 90AC-054.75 đến điểm hẹn gặp S. Tại đây S đưa cho M 500.000 đồng, M cầm tiền rồi đưa cho S 01 gói giấy bạc bên trong là ma túy, loại Heroine rồi M điều khiển xe môtô đi về phòng trọ tại tổ dân phố N, thị trấn V. Đến khoảng 09 giờ 55 phút cùng ngày, khi M vừa về đến phòng trọ thì Tổ công tác của Đội CSĐT tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn V, đến triệu tập M làm việc liên quan đến quản lý người nghiện trên địa bàn, nhận thấy M có biểu hiện nghi vấn nên Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên trái phía trước M đang mặc có 01 túi nilon KT(12m x 5)cm bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, M khai là ma túy, loại Heroine cất giữ để bán kiếm lời và sử dụng cho bản thân, đồng thời khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Đỗ Văn S. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ của Trần Đức M: 01 túi nilon chứa chất nghi là ma túy có đặc điểm như nêu trên (niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01); số tiền 800.000 đồng (niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02); 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO lắp sim thuê bao 0964.334.563 (niêm phong trong phong bì ký hiệu QT03) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 90AC-054.75, sau đó đưa Trần Đức M về trụ sở Công an huyện L để điều tra, làm rõ.
Đối với Đỗ Văn S, sau khi mua được ma túy của M thì đi về nhà tại thôn E, xã N, huyện L và sử dụng bằng hình thức chích ma tuý vào cơ thể. Khi S vừa sử dụng ma tuý xong thì Tổ công tác của Công an xã N, huyện L đến triệu tập S để làm việc, phát hiện cạnh vị trí S đang đứng có mảnh giấy bạc, xi lanh, vỏ ống đựng nước cất. S khai nhận vừa sử dụng ma túy, nguồn gốc số ma túy là mua của Trần Đức M. Tổ công tác đã lập biên bản vụ việc, thu giữ của Đỗ Văn S: 01 mảnh giấy bạc KT(3,7 x 3)cm bám dính chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu X01); 01 vỏ ống thủy tinh (niêm phong trong phong bì ký hiệu X02); 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Masstel lắp sim thuê bao 0386.436.004 (niêm phong trong phong bì ký hiệu X03); 05 tờ vé xổ số Hà Nam mệnh giá 10.000 đồng (niêm phong trong phong bì ký hiệu X04); 01 xi lanh đã qua sử dụng (niêm phong trong phong bì ký hiệu X05).
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Đỗ Văn S, xác định Sơn dương T1 với chất ma túy.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Đức M tại tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L. Cơ quan điều tra thu giữ: Trên nóc tủ quần áo giữa phòng 01 tấm bìa catton KT(13 x 10)cm bám dính chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu KX01); 01 dao lam nhãn hiệu LORD bám dính chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu KX02); 08 mảnh giấy bạc màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu KX03).
Tại bản kết luận giám định số 13/KL-KTHS ngày 03/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận:
- “- Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,623g (Không phẩy sáu trăm hai mươi ba gam) loại: Heroine.
- - 01 mảnh giấy cattong trong phong bì ký hiệu KX01 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Heroine.
- - 01 dao lam nhãn hiệu LORD trong phong bì ký hiệu KX02 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Heroine;
- - 01 mảnh giấy bạc màu trắng trong phong bì ký hiệu X01 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Heroine.
- - 01 xi lanh nhựa loại 03ml, có kim tiêm và nắp đậy trong phong bì ký hiệu X05 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Heroine”.
Tại bản kết luận giám định số 23/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: “Các mảnh giấy bạc ký hiệu từ A1 đến A9 được xé ra từ một mảnh giấy bạc”.
Kết quả khai thác dữ liệu điện tử trong 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO lắp sim thuê bao 0964.334.563 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel lắp sim thuê bao 0386.436.004 đã thu giữ, xác định có các cuộc gọi giữa 02 số thuê bao trên phù hợp với lời khai của Trần Đức M và Đỗ Văn S.
Về nguồn gốc số ma túy đã bán và thu giữ theo Trần Đức M khai: Sáng ngày 26/12/2024, M đi xe ôm từ nhà đến khu vực cầu Đ, thành phố N. Tại đây M mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) một gói ma tuý, loại Heroine với giá 1.000.000 đồng để trong túi nilon màu trắng, M mang gói ma tuý về phòng trọ, dùng dao lam lấy 02 phần nhỏ ra sử dụng, phần còn lại để trong túi nilon mục đích để bán kiếm lời.
Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKSLN ngày 03/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, truy tố Trần Đức M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Đức M từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, đồng thời đề nghị xử lý vật chứng và án phí vụ án.
Bị cáo Trần Đức M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân đã truy tố; không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị H trình bày: Đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Đức M. Đối với chiếc xe mô tô Honda Vision BKS 90AC-054.75 mà cơ quan điều tra đã thu giữ, bà cho bị cáo M vay toàn bộ số tiền để mua xe làm phương tiện đi lại, nên đề nghị Hội đồng xét xử cho gia đình được xin lại chiếc xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, khách quan.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ, được cơ quan điều tra lấy lời khai đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đức M tại phiên toà và quá trình điều tra là phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định về ma tuý và các tài liệu, chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 28/12/2024, tại thôn C M, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam, Trần Đức M đã bán trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine cho Đỗ Văn S với giá 500.000 đồng, số ma tuý trên S đã sử dụng hết. Đến 09 giờ 55 phút cùng ngày, tại phòng trọ của mình ở tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, Tổ công tác của Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn V phát hiện, bắt quả tang thu giữ trong túi quần bên trái của M 0,623g (Không phẩy sáu trăm hai mươi ba gam) ma túy, loại Heroine, M tàng trữ số ma tuý này với mục đích để bán kiếm lời và sử dụng cho bản thân.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Đức M đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xâu, năm 2018 đã bị Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xoá án tích, sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo lại tiếp tục phạm tội, đây là tình tiết cần xem xét khi áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vợ chồng đã sống ly thân hiện bị cáo đang phải nuôi 02 con nhỏ, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân; bị cáo đã bị xử phạt tù về tội phạm ma tuý nhưng lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội mới với tính chất nghiêm trọng hơn. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có thể cải tạo được bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lợi bất chính. Tuy nhiên, xem xét bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, hiện đã ly thân vợ và đang phải nuôi 02 con nhỏ, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma tuý hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 09 mảnh giấy bạc, 05 tờ vé xổ số H1 mệnh giá 10.000 đồng (không trúng thưởng), 01 xi lanh, 01 tấm bìa catton, 01 dao lam là các vật chứng để sử dụng ma tuý và không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu huỷ.
Đối với số tiền 800.000 đồng thu giữ của Trần Đức M, tài liệu điều tra xác định trong đó có 500.000 đồng là tiền bán ma túy mà có, số tiền còn lại là tiền hợp pháp của M không liên quan đến hành vi phạm tội; 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO và M2 là tài sản hợp pháp của Trần Đức M và Đỗ Văn S; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS: 90AC- 054.75 là tài sản hợp pháp của Trần Đức M đều sử dụng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng, 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCCO - Masstel và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS: 90AC- 054.75; trả lại cho Trần Đức M số tiền 300.000 đồng, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án dân sự.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[9] Về các vấn đề khác: Đối với Đỗ Văn S đã có hành vi mua chất ma túy của Trần Đức M và đã sử dụng hết. Do không xác định được khối lượng ma túy đã cất giữ, bản thân S chưa bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về tội phạm liên quan đến ma túy, nên không có căn cứ để xử lý S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 04/02/2025, Công an huyện L đã xử phạt hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” đối với Đỗ Văn S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng pháp luật.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Trần Đức M, căn cứ vào lời khai của M, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người bán ma tuý cho M là ai, ngoài lời khai của bị cáo thì không còn chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý đối tượng về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Vị các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Đức M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Đức M 04 (Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu huỷ: 04 (bốn) phong bì niêm phong số 13/KTHS ghi lần lượt là “Mẫu vật hoàn trả QT01, KX01, KX02, X02, X05” và 01 phong bì niêm phong số 23/PC09-CH ghi “mẫu vật hoàn trả”.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn: Xám, BKS 90AC-054.75, số khung: RLHJK0358RY135912, số máy: JK03E-3457073, không lắp gương chiếu hậu hai bên, xe cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO bên trong có lắp sim (niêm phong trong phong bì ký hiệu KT01); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel bên trong có lắp sim (niêm phong trong phong bì ký hiệu KT02) và số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng.
Trả lại cho Trần Đức M số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án dân sự.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân ngày 24/02/2025 và Uỷ nhiệm chi số 09 ngày 24/12/2024).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Đức M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đỗ Quốc Huy |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đức M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự
