|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HS-ST
Ngày 19-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Tấn Chỉnh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nam Hải; ông Đặng Hữu Tú.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Công Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn M, sinh năm 1985; tại: Quảng Nam; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Thợ xây dựng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; họ và tên cha: không rõ; họ và tên mẹ Huỳnh Thị Q (đã chết); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Vân K, sinh năm 1985 (đã ly hôn), có ba con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985, trú tại: Khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Huỳnh Thị Kim P, sinh năm 1957, trú tại: Khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
+ Ông Phạm Văn Q1, sinh năm 1980, trú tại: Khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị H và Huỳnh Thị Kim P là hàng xóm ở cạnh nhà nhau nhưng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cải vả. Trần Văn M là cháu ruột của Huỳnh Thị Kim P thường xuyên đến nhà P để chơi và ngủ lại. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 01-9-2024, sau khi đi nhậu về Trần Văn M chạy xe môtô vào nhà P để ngủ lại, khi M chạy xe vào đến sân nhà thì va chạm vào ly thủy tinh bên trong có chứa cát và cắm hương bên trên (bát nhang) đang để ở trên sân. Thấy vậy, M gọi bà P ra hỏi “ai để ly hương trên sân vậy dì” thì P trả lời là của bà H; M nghe vậy nên đi qua nhà Huế. Khi đến nơi, M đứng trước cổng và gọi Huế ra hỏi “sao bà đem bát nhang qua để nhà dì tôi”, thì H trả lời “tao thích để chỗ nào thì tao để”, hai bên đứng cãi nhau một lúc thì Phạm Văn Q1 từ trong nhà H đi ra kéo H vào nhà và nói “bà làm rứa là bà sai rồi đó” sau đó tất cả đi về. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, H tiếp tục đi ra lại sân và đứng chửi M và P, lúc này M ở trong nhà bực tức đi ra phía sau nhà lấy con dao (dài 34cm; cán bằng gỗ dài 12,5cm; phần lưỡi dài 21,5cm; diện lưỡi dao dài 8cm) đi qua nhà H đập cửa, chửi bới và nói H đi ra nói chuyện nếu không M cắt điện. Nghe vậy, Q1 từ trong nhà đi ra nói Huế mở cổng để Q1 nói chuyện với M. Sau khi mở cổng, giữa Q1 và M nói chuyện với nhau thì H từ trong nhà đi ra trên tay cầm 01 khúc cây sắt (không rõ chiều dài) sau lưng và tiếp tục cãi nhau với M. Thấy H cầm thanh sắt, M dùng dao chém về phía Huế nhưng H tránh được, cùng lúc này H ném 01 đoạn cây sắt về phía M nhưng không trúng. Sau đó, M lao về phía Huế, thấy vậy Q1 dùng chân đạp vào người M rồi kéo Huế vào trong sân nhà và cùng H đóng cổng lại. Khi đóng cổng thì tay phải của H cầm vào thanh song sắt của cổng, lúc này M đang cầm dao đứng ngoài thấy vậy liền dùng dao chém từ trên xuống dưới trúng vào tay phải của H gây thương tích. Thấy H bị chảy máu, Q1 cũng chạy vào trong nhà lấy 01 con dao (không rõ chiều dài) chạy ra nhưng được Huế can ngăn. Thấy vậy, Q1 đưa H đi Bệnh viện điều trị, M bỏ đi về nhà. Ngày 16-10-2024 Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2198/KL-KTHS ngày 10-10-2024 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng xác định thương tích Nguyễn Thị H cụ thể: 02 sẹo ngón II tay phải, mỗi sẹo: 01%. Sẹo đốt 2-3 ngón III tay phải: 02%. Mẻ đầu xa đốt 2 ngón III tay phải: 01%. Tổng tỉ lệ thương tích là 5%. Vết thương do vật sắc gây nên.
Về vật chứng: Tạm giữ 01 con dao dài 34cm, cán bằng gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi dài 21,5cm, diện lưỡi dao dài 8cm. Tạm giữ: 01 USB Kingston DTSE9 4GB chứa dữ liệu video thể hiện nội dung vụ án; 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình có âm thanh đối với Trần Văn M. Tất cả chuyển theo hồ sơ vụ án. Đối với 01 con dao (không rõ chiều dài) do Q1 sử dụng nhằm mục đích chống trả khi thấy H bị thương tích, tuy nhiên được Huế ngăn cản nên Q1 chưa sử dụng. Do đó, Cơ quan điều tra không tiến hành tạm giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 20.369.206 (Hai mươi triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm lẻ sáu) đồng.
Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn M về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử theo quy định pháp luật.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được:
Do bực tức việc Nguyễn Thị H mang ly thủy tinh bên trong có chứa cát và cắm hương sang nhà dì mình là bà Huỳnh Thị Kim P để giữa sân nhà nên khoảng 23 giờ 00 phút ngày 01-9-2024 tại khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, trong lúc cãi nhau Trần Văn M có hành vi dùng 01 con dao dài 34cm, cán bằng gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi dài 21,5cm, diện lưỡi dao dài 8cm là hung khí nguy hiểm chém trúng vào tay phải của Nguyễn Thị H gây thương tích 05%. Ngày 16-10-2024, Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Xét kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự hiện hành, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi dung dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 05% đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do vậy, Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 15-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn đã truy tố bị cáo Trần Văn M với tội danh và điều luật như đã
viện dẫn ở trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo và vợ đã ly hôn, bản thân bị cáo là lao động chính nuôi ba con nhỏ đang trong độ tuổi ăn học. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có cơ sở áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát trong thời gian thử thách để bị cáo có cơ hội sửa đổi bản thân, chăm lo cho gia đình, cũng đủ sức răng đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[2.3] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:
[2.3.1] Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 20.369.206 (Hai mươi triệu, ba trăm sáu mươi chin nghìn, hai trăm lẻ sáu) đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại.
Xét thấy: Tại phiên tòa bị hại và bị cáo đã thỏa thuận được toàn bộ về phần bồi thường thiệt hại, việc thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái với đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 246 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015 công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại. Buộc bị cáo Trần Văn M có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị H số tiền 20.369.206 (Hai mươi triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm lẻ sáu) đồng.
[2.3.2] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 con dao dài 34cm, cán bằng gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi dài 21,5cm, diện lưỡi dao dài 8cm là hung khí bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 USB Kingston DTSE9 4GB chứa dữ liệu video thể hiện nội dung vụ án; 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình có âm thanh đối với Trần Văn M cần tiếp tục lưu theo hồ sơ để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án.
[2.4] Các vấn đề liên quan khác:
- Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành truy tìm đối với 01 đoạn cây sắt (không rõ chiều dài) do H sử dụng nhưng không có kết quả nên không đề cập xử lý. Tuy nhiên, hành vi sử dụng 01 đoạn cây sắt (không rõ chiều dài) của Nguyễn Thị H để đánh nhau nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý hành chính theo quy định.
- Đối với Trần Văn M, bực tức việc H mang ly thủy tinh bên trong có chứa cát và cắm hương sang nhà dì mình là bà P để giữa sân nhà. Mặt khác, Huế nhiều lần có lời lẽ xúc phạm bà P và M nên tối ngày 01-9-2024, Trần Văn M đã có hành vi dùng dao chém vào tay phải của H gây thương tích 5%. Do đó, hành vi của M không thuộc tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Đối với Nguyễn Thị H có hành vi dùng đoạn cây sắt ném về phía M nhưng không trúng; Phạm Văn Q1 dùng chân đạp vào người M nhưng không gây thương tích nên không đề cập xử lý.
[2.5] Về án phí: Bị cáo Trần Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn M 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19-3-2025).
Giao bị cáo Trần Văn M cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 246 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Trần Văn M có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị H số tiền 20.369.206 (Hai mươi triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm lẻ sáu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 34cm, cán bằng gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi dài 21,5cm, diện lưỡi dao dài 8cm.
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB Kingston DTSE9 4GB chứa dữ liệu video thể hiện nội dung vụ án; 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình có âm thanh đối với Trần Văn M.
(Vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17-01-2025.)
Về Án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn M phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.018.000 (Một triệu, không trăm mười tám nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 19-3-2025). Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Tấn Chỉnh |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
