1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 03 - 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương.
- Các hội thẩm nhân dân: ông Bùi Văn Mão và bà Phạm Thị Ngọc Nga
- Thư ký phiên tòa: ông Đinh Huy Hiệp - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Thanh Đ sinh năm 1990 tại Hà Nội
Nơi thường trú: thôn L, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: thôn T, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh Q và bà Lê Thị P; có vợ Nguyễn Thị L và 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án: Tại bản án số 99/2020/HSST ngày 28/12/2020 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xử phạt Trần Thanh Đ 42 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/3/2023; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03/9/2024 đến ngày 06/9/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị P1 sinh năm 1972; nơi cư trú: số nhà A, ngõ B, đường N, phố Đ, phường B, thành phố H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Đặng Minh N sinh năm 1959; nơi cư trú: số nhà D, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh Đ là đối tượng đã có tiền án về tội “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/09/2024 Trần Thanh Đ điều khiển xe mô tô Honda Vision, màu đỏ biển kiểm soát 35B1- 971.67 đi từ phòng trọ ở xã N, huyện H (nay là thành phố H) đi đến khu vực thành phố N (nay là thành phố H) với mục đích tìm kiếm sơ hở của những người đi đường để giật tài sản có giá trị. Khoảng 18 giờ 25 phút cùng ngày, Đ đi theo hướng Ninh Bình - K đến gầm cầu vượt thuộc phường T, thành phố N (nay là thành phố H) phát hiện chị Nguyễn Thị P1 điều khiển xe đạp điện đi cùng chiều, trên cổ đeo 01 sợi dây chuyền vàng có gắn 01 mặt dây chuyền vàng. Đ nhanh chóng điều khiển xe mô tô áp sát bên phải xe đạp điện, tay phải Đ điều khiển xe mô tô, tay trái Đ giật sợi dây chuyền vàng có gắn mặt dây chuyền vàng trên cổ của chị P1. Khi bị giật dây chuyền thì chị P1 tri hô “cướp, cướp, cướp”, còn Đ cầm dây chuyền vàng gắn mặt dây chuyền vàng trên tay trái, tăng ga bỏ chạy. Khi đi đến khu vực Cầu Y, xã N, huyện H (nay là thành phố H), Đ dừng xe kiểm tra thì phát hiện chỉ còn dây chuyền vàng, mặt dây chuyền vàng gắn trên dây chuyền đã bị rơi trên đường (không xác định được vị trí rơi) rồi Đ tiếp tục điều khiển xe tìm nơi bán dây chuyền vàng. Khi đến cửa hàng V1 địa chỉ phường B, thành phố T, Đ bán sợi dây chuyền vàng cho bà Đặng Minh N là chủ cửa hàng với giá 4.300.000 đồng. Đ đã chi tiêu sinh hoạt cá nhân hết 300.000 đồng, còn lại 4.000.000 đồng. Sau khi sự việc xảy ra, chị Nguyễn Thị P1 đã trình báo nội dung sự việc với Công an phường N, thành phố N (nay là thành phố H).
Quá trình xác minh nắm thông tin, rà soát đối tượng có biểu hiện nghi vấn trên địa bàn xác định Trần Thanh Đ là người có liên quan, Cơ quan điều tra triệu tập Trần Thanh Đ lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Trần Thanh Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tại bản kết luận giám định số 6908/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của V2 - Bộ C kết luận: 03 đoạn dây màu vàng đều được chế tác dạng các mắt xích xoắn nối với nhau có 01 móc khóa gửi giám định có tổng khối lượng 8,67 gam đều là hợp kim của V (A), bạc (A), đồng (Cu), kẽm (Z), hàm lượng trung bình: Au 68,54 %, Ag 7,65%. H lại đối tượng giám định: Toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐGTS ngày 17/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố N (nay là thành phố H) kết luận: Dây chuyển vàng (hàm lượng Au 68,54%) 2,31 chỉ có giá trị 10.568.000 đồng; Mặt dây chuyền vàng (hàm lượng Au 68,54%)
3
gắn đá màu trắng 49 phân có giá trị 2.241.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 12.809.000 đồng.
Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N ( nay là thành phố H) đã xử lý vật chứng và tài sản thu giữ như sau: Trả lại sợi dây chuyền vàng thu giữ của bà N cho chị P1; trả số tiền 4.000.000 đồng thu giữ của Trần Thanh Đ là tiền Đ bán dây chuyền đã cướp giật được cho bà N; trả 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 35B1-971.67, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 030789 tên chủ xe: Nguyễn Thị L và 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu đỏ cho chị Nguyễn Thị L; trả lại 01 quần đùi màu trắng và 01 áo dài tay màu đen của Đ cho chị Nguyễn Thị L là người được Đ ủy quyền nhận lại tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Chị P1 đã nhận lại 01 dây chuyền vàng bị Đ chiếm đoạt và chị P1 yêu cầu bị cáo Đ bồi thường số tiền 2.241.000 đồng là giá trị mặt dây chuyền vàng bị mất. Bà N1 đã nhận lại số tiền 4.000.000 đồng là tiền bà mua dây chuyền vàng Đ bán và không yêu cầu bị cáo Đ phải bồi thường số tiền mà bà N1 trả Đ để mua dây chuyền vàng còn thiếu là 300.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSNDTPHL ngày 08/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố bị cáo Trần Thanh Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2, khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Đ phạm tội “ Cướp giật tài sản”.
- - Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thanh Đ từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 03/9/2024.
- - Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Trần Thanh Đ phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị P1 số tiền 2.241.000 đồng .
- - Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Đ đã khai nhận: Khoảng 18 giờ 25 phút ngày 02/9/2024 tại khu vực gầm cầu vượt thuộc phố Đ, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), Trần Thanh Đ đã có hành vi điều khiển xe mô tô áp sát xe đạp điện do chị Nguyễn Thị P1 điều khiển và giật của chị P1 01 dây
4
chuyền vàng gắn 01 mặt dây chuyền vàng đang đeo trên cổ rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Trong quá trình điều tra bị hại chị Nguyễn Thị P1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Đặng Minh N đã khai báo về các tình tiết liên quan đến chị P1 và bà N như nội dung vụ án đã nêu. Lời khai có trong hồ sơ của chị P1, bà N thể hiện: chị P1 đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là một dây chuyền vàng và yêu cầu bị cáo bồi thường mặt dây chuyền vàng bị mất với số tiền là 2.241.000 đồng. Bà N1 đã nhận lại số tiền mua dây chuyền vàng là 4.000.000 đồng và không yêu cầu Đ phải bồi thường số tiền còn thiếu là 300.000 đồng.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự: Lời khai tại phiên toà của bị cáo Trần Thanh Đ phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp với bản ảnh xác định hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 25 phút ngày 02/9/2024 tại khu vực gầm cầu vượt thuộc phố Đ, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), Trần Thanh Đ đã có hành vi điều khiển xe mô tô công khai, nhanh chóng chiếm đoạt 01 dây chuyền vàng gồm dây chuyền và mặt dây có tổng giá trị 12.809.000 đồng của chị Nguyễn Thị P1 rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Xét thấy bị cáo Đ đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội rất nghiêm trọng do cố ý; bị cáo Đ sử dụng xe mô tô để cướp giật tài sản của chị P1 nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng định khung là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Tái phạm nguy hiếm” quy định tại điểm d, i khoản 2 của Điều 171 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
5
Điều 173. Tội Cướp giật tài sản
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
- ...
- d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
- ...
- i) Tái phạm nguy hiểm;
- ...
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết tăng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- - Nhân thân: Bị cáo Đ có nhân thân không tốt, đã bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Tuy nhiên bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[2] Trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị P1 đã nhận lại 01 dây chuyền vàng bị Trần Thanh Đ chiếm đoạt và yêu cầu bị cáo Đ bồi thường giá trị mặt dây chuyền vàng theo định giá tài sản là 2.241.000 đồng. Xét yêu cầu của chị P1 là chính đáng nên căn cứ theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường của chị P1, buộc bị cáo phải bồi thường cho chị P1 số tiền 2.241.000 đồng.
Đối với số tiền bị cáo Đ bán dây chuyền vàng cho bà N1 là 4.300.000 đồng, bị cáo Đ đã giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 4.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà N1 còn 300.000 đồng bị cáo Đ đã tiêu xài cá nhân
6
hết. Bà N1 không yêu cầu Đ phải bồi thường số tiền 300.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Biện pháp tư pháp và các vấn đề khác: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N nay là thành phố H đã trả lại 01 dây chuyền vàng thu giữ của bà N1 cho chị P1; trả số tiền 4.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ là tiền bị cáo Đ bán dây chuyền đã cướp giật được cho bà N1; trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 35B1-971.67, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 030789 do Phòng C1 Công an tỉnh N cấp (tên chủ xe: Nguyễn Thị L) và 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu đỏ cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị L (vợ bị cáo Đ) do chị L không biết việc bị cáo Đ sử dụng chiếc xe này thực hiện hành vi phạm tội; trả lại 01 quần đùi màu trắng và 01 áo dài tay màu đen của bị cáo Đ do không liên quan đến hành vi phạm tội cho chị Nguyễn Thị L là người được ủy quyền. Việc xử lý vật chứng và tài sản thu giữ của Cơ quan điều tra là có căn cứ, đúng pháp luật.
Quá trình điều tra xác định khi mua sợi dây chuyền Đ bán, bà N1 không biết sợi dây chuyền vàng là do Đ cướp giật mà có nên không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ. Chị Nguyễn Thị L không biết bị cáo Đ mượn xe mô tô và chiếc mũ bảo hiểm của chị để đi Cướng giật tài sản. Do đó Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với bà N1 và chị L.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đ bị kết án phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 2.241.000 đồng bị cáo Đ phải bồi thường cho chị P1 là 300.000 đồng.
[5] Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố N nay là thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình nay là thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
7
Căn cứ điểm d và điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Đ phạm tội “ Cướp giật tài sản”
- Trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Trần Thanh Đ phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị P1 số tiền 2.241.000 đồng (hai triệu hai trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).
- Án phí: bị cáo Trần Thanh Đ nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/3/2025); bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh Đ 04 (bốn ) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 03/9/2024.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
8
|
Nguyễn Thị Thanh Phương |
9
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh Đ phạm tội " Cướp giật tài sản"
