Hệ thống pháp luật

TAND THÀNH PHỐ L

TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày 27-02- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Tuyết
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Quang Vinh, ông Giàng A Chỉnh;
  • Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Quyên – Thư ký Toà án nhân dân thành phố L, tỉnh L.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thảo, Kiểm sát viên.

Ngày 27/02/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn L1; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05 tháng 01 năm 1985, tại tỉnh T. Nơi cư trú: Thôn La M, xã Lộc S, huyện H, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn L2, đã chết. Con bà: Phạm Thị X, sinh năm 1957; Họ tên vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1985 và có 02 con: con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015. Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ ba; Tiền sự: có 01 tiền sự. Tại Quyết định số 09/QĐ-TA ngày 28/12/2021của Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn L1 với thời hạn 24 tháng. Ngày 01/12/2023 L1 chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng tính đến thời điểm phạm tội lần này chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Tiền án: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/11/2024 cho đến nay tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 13/11/2024, tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố L phối hợp với đội Cảnh sát giao thông số 1 - Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh L làm nhiệm vụ tại tổ 3, phường Đoàn K, thành phố L, tỉnh L thì phát hiện Nguyễn Văn L1 có biểu hiện nghi vấn phạm tội. Qua kiểm tra L1 tự giác lấy từ trong túi áo khoác bên trái đang mặc giao nộp cho tổ công tác 02 gói, 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh, 01 gói được gói bằng 01 mảnh nilon màu trắng có in chữ và số màu xanh và 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Theo L1 khai đó là Heroine, L1 tàng trữ để sử dụng.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L1 khai nhận: Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là vào khoảng 17 giờ ngày 12/11/2024, Nguyễn Văn L1 bắt xe khách từ nhà tại Thôn La M, xã Lộc S, huyện H, tỉnh T lên thành phố L, tỉnh L để tìm việc làm. Khoảng 09 giờ sáng ngày 13/11/2024, L1 đang ngồi tại bến xe khách tỉnh L thì lên cơn nghiện ma túy nên đã đi bộ ra khỏi bến xe khách tìm mua ma túy sử dụng. Khi L1 đang đi bộ trên đường 58m tại khu vực gần bến xe khách tỉnh L thì L1 gặp và trao đổi mua bán Heroine với một người đàn ông lạ mặt, không rõ nhân thân lai lịch. Qua trao đổi mua bán, L1 mua được của người đàn ông nói trên 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng 01 mảnh nilon màu xanh với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, L1 chia số Heroine mua được thành 02 phần, 01 phần L1 gói bằng mảnh nilon màu xanh ban đầu, 01 phần L1 gói bằng 01 mảnh nilon màu trắng có in chữ và số màu xanh và 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng (L1 nhặt mảnh nilon màu trắng và mảnh giấy tại bãi đất trống gần bến xe khách). Sau đó L1 cất giấu 02 gói Heroine nói trên vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng ma túy. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, khi L1 đang đi bộ trên vỉa hè tại tổ 3, phường Đoàn K, thành phố L thì bị cơ quan điều tra bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Kết luận giám định số: 52/KLGĐ ngày 13/11/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn L1 trong quá trình bắt quả tang ngày 13/11/2024 có tổng khối lượng là 0,25 gam. Lấy toàn bộ 0,25 gam gửi làm mẫu vật giám định

Kết luận giám định số: 1199/KL-KTHS ngày 18/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn L1 trong quá trình bắt quả tang ngày 13/11/2024 có tổng khối lượng là 0,25 gam; 02 mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu M1 và M2) gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine. (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).

Cáo trạng số: 01/CT-VKSTP ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố Nguyễn Văn L1 về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L1 phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 từ 16 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2024. Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 01 phong bì công văn của Công an thành phố L (theo hồ sơ bên trong là: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu trắng có in chữ và số màu xanh; 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng). Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các quyết định nêu trên.

Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật để được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, các Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, kết luận giám định được xem xét và tranh tụng công khai tại phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 13 giờ 45 phút ngày 13/11/2024, tại tổ 3, phường Đoàn K, thành phố L, tỉnh L, Nguyễn Văn L1 đang tàng trữ trái phép 0,25 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố L phối hợp với đội Cảnh sát giao thông số 1 - Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh L phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo Nguyễn Văn L1 là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L1 có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Tại Quyết định số 09/QĐ-TA ngày 28/12/2021của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh T, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn L1 với thời hạn 24 tháng. Ngày 01/12/2023 L1 chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng tính đến thời điểm phạm tội lần này chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điêu 51 của Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội cai nghiện, răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,25 gam Heroine Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Đối với 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu trắng có in chữ và số màu xanh; 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, theo lời khai của Nguyễn Văn L1, nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là do mua của một người đàn ông lạ mặt bị cáo gặp tại khu vực gần Bến xe khách tỉnh L. Tuy nhiên, L1 không biết nhân thân lai lịch của người đàn ông này, không nhớ biển kiểm soát và đặc điểm xe mô tô của người này sử dụng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2024
  3. Về vật chứng:
    Tịch thu, tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu trắng có in chữ và số màu xanh; 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng.
    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025 giữa Công an thành phố L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố L).
  4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.

Nơi nhận.

  • - TAND tỉnh L;
  • - VKSND tỉnh L;
  • - Cơ quan CSĐT(PC02) Công an tỉnh L;
  • - Công an TP L (CQĐT, Nhà Tạm giữ, CQ THAHS);
  • - VKSND TP L;
  • - Chi cục THADS TP L;
  • - Sở tư pháp tỉnh L;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Tòng Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội: Tàng trữ TP CMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger