TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:32/2025/HS-ST
Ngày: 27-2-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Oanh và bà Đoàn Thị Loan.
- Thư ký phiên toà: ông Phạm Văn Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, mở phiên tòa trực tiếp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST - HS ngày 22/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lê Hồng Minh, (tên gọi khác: không); sinh ngày 14 tháng 7 năm 1996 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 8, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Lê Phạm Phước, sinh năm 1958 và con bà Phạm Thị Đoàn, sinh năm 1960; Vợ: Bùi Thị Huyền, sinh năm 1987 và có 1 con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2024 đến nay (có mặt).
- Họ và tên: Lê Đức Hiếu, (tên gọi khác: không); sinh ngày 15 tháng 8 năm 1996 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 6, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Lê Đức Khang, sinh năm 1973 và con bà Lê Thị Hiền, sinh năm 1972; Vợ: Nguyễn Thị Trang, sinh năm 1996 và có 2 con, con lớn nhất sinh năm 2018 và con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2024 đến nay (có mặt).
- Họ và tên: Lê Đức Linh, (tên gọi khác: không); sinh ngày 15 tháng 7 năm 2000 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 6, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Lê Đức Tính, sinh năm 1970 và con bà Ngô Thị Thu, sinh năm 1970; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2024 đến nay (có mặt).
- Họ và tên: Lê Đức Thắng, (tên gọi khác: không); sinh ngày 17 tháng 01 năm 1993 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 6, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Lê Đức Bốn, sinh năm 1962 và con bà Lê Thị Hoan, sinh năm 1962; Vợ: Nguyễn Thị Nhung, sinh năm 2003 và có 01 con, sinh năm 2023: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2024 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 55 phút ngày 24/11/2024, Lê Đức Hiếu nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đã gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho Lê Đức Linh nói “Cháu say rồi, chú lấy hộ cho cháu ít chó về chú cháu ta chơi”, nghĩa là Hiếu nhờ Linh mua ma tuý hồng phiến để về cùng nhau sử dụng. Linh trả lời “Có, lấy mấy” thì Hiếu nói “Lấy cháu năm trăm”, nghĩa là Hiếu nhờ Linh mua cho Hiếu 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) ma tuý hồng phiến. Hiếu sử dụng ứng dụng Viettel Money chuyển số tiền 500.000 đồng đến số tài khoản 4321469161 ngân hàng BIDV của Linh. Sau đó, Hiếu gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger cho Lê Đức Thắng nói “Có xuống làm tý chó không?”, nghĩa là Hiếu hỏi Thắng có sử dụng ma tuý hồng phiến không thì Thắng đồng ý. Hiếu hỏi tiếp “Có tiền không” thì Thắng nói “Không có”, Hiếu nói với Thắng “Vậy có năm trăm bắn cho chú Linh, khi mô chú về ta làm tý”, nghĩa là Hiếu nói với Thắng là Hiếu đã chuyển khoản 500.000 đồng cho Linh để Linh mua ma tuý hồng phiến. Hiếu dặn Thắng liên lạc với Linh để lấy ma tuý rồi qua nhà đón Hiếu cùng đi sử dụng ma tuý. Vào khoảng 19 giờ 10 phút cùng ngày, Linh nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Lê Hồng Minh hỏi mua 500.000 đồng ma tuý hồng phiến thì Minh đồng ý, đồng thời gửi mã QR của Ngân hàng để Linh chuyển khoản. Sau khi nhận được mã QR, Linh sử dụng tài khoản số 4321469161 ngân hàng BIDV chuyển 500.000 đồng đến số tài khoản 21899297 ngân hàng ACB cho Minh. Sau đó, Minh bắt xe taxi đi từ nhà mình đến khu vực cầu vượt Yên Lý thuộc xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An để mua ma túy. Khi đến nơi, Minh gặp một người đàn ông làm nghề xe ôm không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể. Minh nói với người đó “Anh ơi có không để cho em năm trăm”, nghĩa là Minh nói với người đàn ông đó bán cho Minh 500.000 đồng ma túy hồng phiến thì người đó đồng ý. Minh đưa cho người đàn ông đó số tiền 500.000 đồng, người đó cầm lấy tiền rồi đi một lúc sau quay lại đưa cho Minh 01 gói bên ngoài bằng vỏ bao nilon màu đen, bên trong có chứa 05 viên ma tuý hồng phiến. Minh cầm lấy gói ma túy đó rồi bắt xe ôm đi đến khu vực Cầu Sông ở cánh đồng thuộc xóm 8, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An rồi mở gói ma túy vừa mua được lấy ra 01 viên ma túy sau đó sử dụng, còn 04 viên ma tuý Minh gói lại như cũ rồi để dưới thành cầu, cạnh vị trí của Minh đang đứng. Sau đó, Minh nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Linh và hẹn Linh đến khu vực Cầu Sông ở cánh đồng thuộc xóm 8, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An để giao ma tuý. Sau đó, Linh đi đến điểm hẹn, Minh chỉ cho Linh vị trí để ma tuý dưới thành cầu. Linh đi theo chỉ dẫn của Minh thì thấy 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu đen, bên trong có chứa 04 viên ma tuý hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, Linh đi bộ đến khu vực cổng chào thuộc xóm 6, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và nhắn tin cho Thắng với nội dung: “Anh lấy được ma tuý rồi, anh để chỗ biển báo ở đồng xóm 6 đó em ra đó mà lấy”. Sau đó, Thắng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đỏ, biển kiểm soát 37L1 – 246.86 đi đến địa điểm Linh chỉ dẫn. Khi đi trên đường, Thắng gặp Linh nên chở Linh quay lại nơi Linh cất giấu. Thắng đi lại vị trí Linh chỉ thì thấy 01 (Một) gói nilon màu đen bên trong có chứa 04 viên ma tuý hồng phiến. Sau đó, Linh hẹn Thắng khi nào chơi ma túy thì gọi Linh, còn Thắng cầm gói ma tuý đó ở lòng bàn tay trái rồi đến nhà Hiếu chở Hiếu tìm nơi để sử dụng ma tuý. Đến 20 giờ 10 phút ngày 24/11/2024, khi Thắng và Hiếu đi đến đường liên xóm thuộc xóm 2, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác công an xã Diễn Yên phối hợp với công an xã Diễn Hồng phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 24/11/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Diễn Châu và Kết luận giám định số 959 /KL-KTHS (Đ2- MT) ngày 29/11/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lê Đức Hiếu và Lê Đức Thắng gửi tới giám định là ma túy, loại methamphetamine. Số viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau thu giữ khi bắt quả tang Lê Đức Hiếu và Lê Đức Thắng có tổng khối lượng là 0,4 gam.
Tại bản cáo trạng số 125/CT-VKSDC ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố Lê Hồng Minh về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố Lê Đức Hiếu, Lê Đức Linh, Lê Đức Thắng về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hiếu, Linh, Thắng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Lê Đức Hiếu, Lê Đức Linh, Lê Đức Thắng mỗi bị cáo từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Truy tố bị cáo Lê Hồng Minh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Minh từ 24 (hai mươi tư) tháng đến 27 (hai mươi bảy) tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa vật chứng thu giữ của vụ án; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 04 điện thoại thu giữ các bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng các bị cáo: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Diễn Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên toà, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp nội dung cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra khác đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 24/11/2024, tại xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, Lê Hồng Minh mua 05 (Năm) viên ma túy (Methamphetamine) với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), sau đó, bị cáo Minh bán cho Lê Đức Linh 0,4 gam viên ma túy Methamphetamine với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), còn 01 (Một) viên ma túy Methamphetamine thì Minh được hưởng lợi; Các bị cáo Lê Đức Hiếu, Lê Đức Linh và Lê Đức Thắng mua của Minh 0,4 gam ma túy methamphetamine để sử dụng. Hành vi của các bị cáo Hiếu, Linh, Thắng đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Minh đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự
[3] Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã truy tố và đề nghị kết tội các bị cáo Linh, Hiếu, Thắng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và truy tố và đề nghị kết tội bị cáo Minh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và sự duy trì nòi giống của dân tộc. các Các bị cáo Lê Đức Hiếu, Lê Đức Thăng, Lê Đức Linh và Lê Hồng Minh là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Các bị cáo nhận thức được tác hại to lớn của ma túy, nó thực sự là một hiểm họa lớn đối với con người và xã hội, làm xói mòn đạo đức lối sống, đồng thời là căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm và cách ly các bị cáo Lê Đức Hiếu, Lê Đức Thăng, Lê Đức Linh và Lê Hồng Minh ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo Lê Đức Hiếu, Lê Đức Thăng, Lê Đức Linh và Lê Hồng Minh và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Đức Hiếu, Lê Đức Thăng, Lê Đức Linh và Lê Hồng Minh khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Vì vậy cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo Lê Đức Hiếu, Lê Đức Thăng, Lê Đức Linh và Lê Hồng Minh với mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: số ma túy sau khi giám định đựng trong 01 phong bì thư niêm phong ban đầu là vật chứng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ; tịch thu sung quỹ Nhà nước 04 (một) điện thoại thu giữ của các bị cáo.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
[8.1] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[8.2] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt các bị cáo Lê Đức Hiếu, Lê Đức Thắng, Lê Đức Linh mỗi bị cáo 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 24/11/2024).
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Hồng Minh 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 25/11/2024).
- Việc xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy (Một) phong bì thư được niêm phong theo đúng quy định, dán kín trên mép dán có chữ ký thành phần tham gia niêm phong, các bị can Lê Đức Hiếu, Lê Đức Thắng cùng hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An, bên trong có chứa: 02 (Hai) viên ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,2 gam (Không phẩy hai gam), 01 (Một) vỏ gói nilon màu đen và 01 (Một) phong bì thư niêm phong ban đầu.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu xanh đã qua sử dụng. số Imeil: 352847115616615, số Imei2: 352847115740811; (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max màu xanh, đã qua sử dụng, số Imeil: 357884546591245, số Imei2: 357884546576089, màn hình bị hỏng, không kiểm tra được chi tiết bên trong; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xám đã qua sử dụng, số Imeil: 352839116170544, số Imei2: 352839116038592 có gắn sim số 0966.280.95; (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38 màu đen, đã qua sử dụng,. số Imei 1: 869511060633217, số Imei2: 869511060633209.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo phiếu nhập kho số 25NK051 ngày 21/01/2025.
- Về án phí: Các bị cáo Lê Đức Hiếu, Lê Đức Thắng, Lê Đức Linh, Lê Hồng Minh mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Thị Kim Dung |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt các bị cáo Lê Đức Hiếu, Lê Đức Thắng, Lê Đức Linh mỗi bị cáo 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
