|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày: 20-02-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Châu Thị Lệ
Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 354/2024/TLST-HS ngày 16/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 04/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/QĐ-HPT ngày 18/02/2025 đối với các bị cáo:
- Đinh Thị Như H; Giới tính: Nữ, sinh ngày 29/10/2001 tại tỉnh Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: 174 Tổ I, ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện tại: D đường L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đinh Văn H1 và bà Ngô Thị S; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 20/08/2024 (Có mặt).
- Vương Đức T; Giới tính: Nam, sinh ngày 09/12/1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: B đường M, phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: D đường L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Thợ xăm; Trình độ văn hóa: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Vương A và bà Ngô Thị Q; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 20/08/2024 (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Hồng Q1, sinh năm 1977, địa chỉ: 4 Hồ N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ( vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 15 phút ngày 18/08/2024, Tổ công tác 363 - Công an quận G tuần tra đến trước địa chỉ số C đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Vương Quốc T1 chở Đinh Thị Như H trên xe máy biển số 59M2-519.08 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, H và T1 đều có kết quả dương tính với Cần sa. Qua làm việc Đinh Thị Như H khai cất giấu Cần sa tại phòng thuê nhà số D đường L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để bán cho người khác và sử dụng cá nhân.
Tiến hành thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp tại phòng thuê của H và T1, phát hiện lập Biên bản tạm giữ 35 gói nylon và 01 hộp gỗ tròn (H khai là Cần sa) cùng các vật chứng khác. Nguồn gốc số Cần sa thu giữ là của Đinh Thị Như H, H mua của người nam thanh niên có tài khoản Messenger tên “Khắc Dũng” vào khoảng 17 giờ ngày 16/08/2024 với số tiền là 2.000.000 đồng. H chuyển khoản trả tiền mua Cần sa cho “Khắc Dũng” vào tài khoản ngân hàng M số 8880193868888. D đặt giao hàng qua ứng dụng Be để giao Cần sa qua nhà thuê cho H. Khi nhận được Cần sa, H mang vào phòng thuê một mình dùng cân tiểu ly điện tử phân chia nhỏ số Cần sa vừa mua được thành nhiều gói nhỏ, mỗi gói có trọng lượng khoảng 01 gam và có lấy một ít Cần sa sử dụng một mình. Đến khoảng 06 giờ, ngày 17/08/2024, T1 thức dậy và đưa cho H số tiền 350.000 đồng nói H bán Cần sa cho T1, H đồng ý và nhận số tiền này của T1. Do đã biết giá tiền H bán Cần sa nên T1 tự mở tủ lạnh trong phòng lấy 04 gói nylon chứa Cần sa từ trong lọ thuỷ tinh và 04 tờ giấy quyến để vấn Cần sa thành điếu cất trong túi quần của T1 đang mặc. Sau đó, T1 sử dụng xe máy biển số 59M2-519.08 đi Đ để xăm hình cho khách. Trên đường đi T1 đã hút hết số Cần sa đã mua của H.
Phòng thuê phía trước lầu 2 nhà số D đường L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là do H đứng tên làm hợp đồng thuê với anh Lê Duy L. H và T1 chia đều tiền thuê nhà. Quá trình sống cùng phòng thuê với H được khoảng một tháng, Vương Đức T biết H có hoạt động mua bán Cần sa, nhưng T không tham gia vào hoạt động mua bán Cần sa của H. H nói cho T biết việc mua Cần sa qua mạng xã hội, tuy nhiên H mua Cần sa của ai và bán cho ai thì T không rõ. Khi T ở cùng H thì biết H chia nhỏ Cần sa cho vào gói nylon, mỗi gói H dùng cân tiểu ly cân thành 01 gam để bán lại cho khách với giá tiền là 100.000 đồng.
Từ khi sống cùng với nhau, H và T chưa sử dụng Cần sa cùng với nhau.
Căn cứ Kết luận giám định số 9870/KL-KTHS ngày 27/08/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: 05 gói thảo mộc từ m1-m5 giám định đều là Cần sa (Bút lục 73).
Vật chứng vụ án:
- 01 gói nylon đựng 05 gói nylon chứa thảo mộc khô (m1), 01 lọ thuỷ tinh đựng 27 gói nylon chứa thảo mộc khô (m2), 01 hộp gỗ hình trụ tròn chứa thảo mộc khô (m3); 02 gói nylon chứa thảo mộc khô (m4), 01 cối xay kim loại màu đỏ đựng thảo mộc khô, số thảo mộc khô này được thu giữ vào trong 01 gói nylon (m5), 01 cân tiểu ly điện tử hiệu D1; 01 vỏ hộp giấy có in chữ OCB đựng giấy quyến mỏng, đã sử dụng hết; 01 cối xay kim loại màu xanh (dùng để xay Cần sa); 01 cối xay bằng nhựa màu cam dùng để xay Cần sa; 01 điếu cày bằng gỗ dùng để hút Cần sa, 01 túi nylon đựng nhiều gói nylon nhỏ chưa qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu ROG; gắn sim số: 0888849111 là thu giữ của Vương Đức T;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, gắn sim số: 0924.824.xxx là phương tiện Đinh Thị Như H dùng liên hệ mua bán Cần sa.
- 01 xe mô tô biển số 59M2-519.08; số khung: GA125103774; số máy: GA125103778. Qua xác minh, chủ sở hữu là Võ Hồng Q1 (sinh năm: 1977; Nơi thường trú: số D đường H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh). Anh Võ Hồng Q1 khai nhận đã mua xe máy biển số 59M2-519.08 vào năm 2000 đến khoảng tháng 04 năm 2024, anh Q1 đã bán lại xe máy này cho một người tên C và chưa làm hợp đồng mua bán xe và cũng chưa làm thủ tục đăng ký sang tên chủ sở hữu xe. Vương Đức T khai mua xe trên của người không rõ nhân thân, lai lịch không làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu, nhưng đến nay vẫn chưa có ai liên hệ làm việc.
- 01 chiếc xe mô tô biển số 60B9-710.19; số máy: E3X8E087884; số khung: RLCSEC810LY087876. Qua xác minh, chủ sở hữu là Đinh Thị Như H.
Tại bản cáo trạng số 432/CT-VKS-QGV, ngày 12/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Đinh Thị Như H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 và bị cáo Vương Đức T về tội “ không tố giác tội phạm” theo khoản 1 điều 390 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Khoản 1 điều 390; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Đinh Thị Như H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Vương Đức T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Tịch thu và tiêu hủy 01 gói nylon đựng 05 gói nylon chứa thảo mộc khô (m1), 01 lọ thuỷ tinh đựng 27 gói nylon chứa thảo mộc khô (m2), 01 hộp gỗ hình trụ tròn chứa thảo mộc khô (m3), 02 gói nylon chứa thảo mộc khô (m4), 01 cối xay kim loại màu đỏ đựng thảo mộc khô, số thảo mộc khô này được thu giữ vào trong 01 gói nylon (m5), 01 cân tiểu ly điện tử hiệu D1; 01 vỏ hộp giấy có in chữ OCB đựng giấy quyến mỏng, đã sử dụng hết; 01 cối xay kim loại màu xanh (dùng để xay Cần sa); 01 cối xay bằng nhựa màu cam dùng để xay Cần sa; 01 điếu cày bằng gỗ dùng để hút Cần sa,
Tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, gắn sim số: 0924.824.xxx là phương tiện mà bị cáo H sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý
Trả lại cho bị cáo T chiếc điện thoại hiệu di động hiệu ROG; gắn sim số: 0888849111.
Trả lại cho bị cáo Vương Đức T chiếc xe mô tô biển số 59M2-519.08; số khung: GA125103774; số máy: GA125103778.
Trả lại chiếc xe mô tô biển số 60B9-710.19; số máy: E3X8E087884; số khung: RLCSEC810LY087876 cho bị cáo Đinh Thị Như H.
Miễn phạt bổ sung cho bị cáo H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Đinh Thị Như H đã khai nhận hành vi mua trái phép chất ma tuý như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo Vương Đức T khai nhận hành vi không tố giác tội phạm như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
- Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận G, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Đinh Thị Như H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Vương Đức T đã phạm vào tội “ Không tố giác tội phạm”, tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 251 và 390 của Bộ luật Hình sự.
- Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên mua bán trái phép chất ma tuý, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Số ma túy bị cáo H mua về để bán là 34,4189 gram ma túy qua giám định là cần sa, nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có cơ sở. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo H ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm tạo điều kiện cho bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
- Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo T sống chung nhà với bị cáo H, bị cáo biết rõ bị cáo H mua ma túy là cần sa về để bán kiếm lời nhưng không trình báo với cơ quan chức năng có thẩm quyền để kịp thời ngăn chặn hoặc kịp thời điều tra phát hiện tội phạm, mà bị cáo còn mua cần sa của bị cáo H để sử dụng, nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo về tội không tố giác tội phạm, theo khoản 1 Điều 390 của Bộ luật hình sự là có cơ sở.
- Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo H đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, mới phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
- Đối với bị cáo Vương Đức T lẽ ra phải có mức hình phạt tương xứng với tội lỗi của bị cáo, nhưng xét thấy bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. thời gian tạm giam bị cáo từ ngày 20/08/2024 đến nay cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo T ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng mức án bằng với thời gian tạm giam cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo H nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 gói nylon đựng 05 gói nylon chứa thảo mộc khô (m1), 01 lọ thuỷ tinh đựng 27 gói nylon chứa thảo mộc khô (m2), 01 hộp gỗ hình trụ tròn chứa thảo mộc khô (m3), 02 gói nylon chứa thảo mộc khô (m4), 01 cối xay kim loại màu đỏ đựng thảo mộc khô, số thảo mộc khô này được thu giữ vào trong 01 gói nylon (m5), 01 cân tiểu ly điện tử hiệu D1; 01 vỏ hộp giấy có in chữ OCB đựng giấy quyến mỏng, đã sử dụng hết; 01 cối xay kim loại màu xanh (dùng để xay Cần sa); 01 cối xay bằng nhựa màu cam dùng để xay Cần sa; 01 điếu cày bằng gỗ dùng để hút Cần sa là công cụ liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với chiếc điện thoại hiệu di động hiệu ROG; gắn sim số: 0888849111 là tài sản riêng của bị cáo T không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
- - Đối với chiếc xe mô tô biển số 59M2-519.08; số khung: GA125103774; số máy: GA125103778 qua xác minh do ông Võ Hồng Q1 đứng tên sở hữu ông Q1 bán chiếc xe lại cho người thanh niên tên C nhưng chưa làm thủ tục sang tên, bị cáo T mua lại chiếc trên. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe trên có giấy tờ hợp pháp, không phải là phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại chiếc xe trên cho bị cáo T.
- - Đối với chiếc xe mô tô biển số 60B9-710.19; số máy: E3X8E087884; số khung: RLCSEC810LY087876 qua xác minh do bị cáo Đinh Thị Như H đứng tên, chiếc xe tên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
- - Đối với chiếc điện thoại di động di động hiệu Iphone, gắn sim số: 0924.824.xxx là phương tiện mà bị cáo H sử dụng để liên lạc mua ma tuý nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đinh Thị Như H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Vương Đức T phạm tội “Không tố giác tội phạm”;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Đinh Thị Như H 02(hai) năm tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày 20/08/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 390; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Vương Đức T 06(sáu) tháng tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày 20/08/2024.
Áp dụng khoản 5 điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa đối với bị cáo Vương Đức T, nếu bị cáo không bị tạm giam vê một tội phạm khác.
Căn cứ vào Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu và tiêu hủy 01 gói nylon đựng 05 gói nylon chứa thảo mộc khô (m1), 01 lọ thuỷ tinh đựng 27 gói nylon chứa thảo mộc khô (m2), 01 hộp gỗ hình trụ tròn chứa thảo mộc khô (m3), 02 gói nylon chứa thảo mộc khô (m4), 01 cối xay kim loại màu đỏ đựng thảo mộc khô, số thảo mộc khô này được thu giữ vào trong 01 gói nylon (m5), 01 cân tiểu ly điện tử hiệu D1; 01 vỏ hộp giấy có in chữ OCB đựng giấy quyến mỏng, đã sử dụng hết; 01 cối xay kim loại màu xanh (dùng để xay Cần sa); 01 cối xay bằng nhựa màu cam dùng để xay Cần sa; 01 điếu cày bằng gỗ dùng để hút Cần sa,
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, gắn sim số: 0924.824.xxx.
- - Trả lại cho bị cáo Vương Đức T chiếc điện thoại hiệu di động hiệu ROG; gắn sim số: 0888849111.
- - Trả lại cho bị cáo Vương Đức T chiếc xe mô tô biển số 59M2-519.08; số khung: GA125103774; số máy: GA125103778.
- - Trả lại chiếc xe mô tô biển số 60B9-710.19; số máy: E3X8E087884; số khung: RLCSEC810LY087876 cho bị cáo Đinh Thị Như H.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 112/PNK ngày 15/02/2025 của Công an quận G).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tường Linh |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Thị Như H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Vương Đức T phạm tội “Không tố giác tội phạm”
