Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày 16 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Hương.

Bà Nguyễn Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Sầm Mạnh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại điểm cầu trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và điểm cầu trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh N, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

- Đậu Đình Đ, sinh năm 1996 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đậu Đình T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 18/5/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13 tháng 4 năm 2025 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Ông Biện Đình V, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Cháu Phạm Thị Thùy A, sinh ngày 20/11/2007; Nơi cư trú: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của cháu A: Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1988 và chị Đậu Thị H2, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Nghệ An. (Là bố mẹ đẻ). Vắng mặt.

2. Chị Trương Thị Thanh T1, sinh ngày 28/6/2006; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Phan Văn T2, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Xóm M, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 13/4/2025, Đậu Đình Đ điều khiển chiếc xe máy điện nhãn hiệu Xmen neo, màu xanh đen, không lắp biển số đi đến xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Khi đến cửa hàng tạp hóa của ông Biện Đình V, Đ dừng xe, quan sát thấy không có ai nên lén lút đi vào cửa hàng lấy trộm 01 chiếc hộp nhựa bên trong đựng 110 thẻ cao điện thoại nhà mạng Vinaphone, M, và V2 có mệnh giá từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng với tổng số tiền là 3.850.000 đồng. Khi Đ vừa ra khỏi cửa hàng thì bị lực lượng Công an xã N và quần chúng nhân dân phát hiện, bắt quả tang.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 03/KL-ĐGTS ngày 21/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận:

“1. Các loại tài sản cần định giá: 01 hộp nhựa hình trụ tròn, nắp màu đỏ, kích thước cao 17,5 cm, đường kính 11cm; Giá trị còn lại của 01 hộp nhựa: 10.000 đồng

- 19 thẻ cào nạp tiền điện thoại nhãn hiệu mobifone, mệnh giá 20.000 đồng gồm các seri: 099932001407280; 099932001407281; 099932001407284; 099932001407285; 099932001407288; 099932001407289; 099932001407292; 099932001407293; 099932001407297; 099932001407260; 099932001407261; 099932001407264; 099932001407265; 099932001407268; 099932001407269; 099932001407272; 099932001407273; 099932001407276; 099932001407277; Giá trị còn lại của 19 thẻ cào: 380.000 đồng

- 07 thẻ cào nạp tiền điện thoại nhãn hiệu mobifone, mệnh giá 50.000 đồng gồm các số seri: 099942000153642;099942000153643; 099942000153646; 099942000153647; 099942000153650; 099942000153651; 099942000153654; Giá trị còn lại của 07 thẻ cào: 350.000 đồng

- 18 thẻ cào nạp tiền điện thoại nhãn hiệu vinaphone, mệnh giá 20.000 đồng gồm các seri:51500571277781;51500571277776;51500571277779; 51500571277774;51500571277780;51500571277775;51500571277673;515005 71277782;51500571277679;51500571277674;51500571277680;515005712776 75;51500571277681;51500558371771;51500571277676;51500571277677;515 00558371770; 51500558371776; Giá trị còn lại của 18 thẻ cào: 360.000 đồng.

- 14 thẻ cào nạp tiền điện thoại nhãn hiệu vinaphone, mệnh giá 50.000 đồng gồm các seri: 53510410704831; 53510410704832;53510410704833; 53510410704836; 53510410704837; 53510410704838; 53510410704841; 53510410704842; 53510410704843; 53510410704844; 53510410704846; 53510410704847; 53510410704848; 53510410704849; Giá trị còn lại của 14 thẻ cào: 700.000 đồng

- 30 thẻ cào nạp tiền điện thoại nhãn hiệu V2, mệnh giá 20.000 đồng, gồm các seri: 10010781211291; 10010781211292; 10010781211293; 10010781211294; 10010781211296; 10010781211297; 10010781211298; 10010781211299; 10010774401482; 10010774401483; 10010774401484; 10010774401487; 10010774401488; 10010774401489; 10010774401490; 10010781211301; 10010781211302; 10010781211303; 10010781211304; 10010781211306; 10010781211307; 10010781211308; 10010781211309; 10010781211311; 10010781211312; 10010781211313; 10010781211314; 10010781211316; 10010781211317; 10010781211318; Giá trị còn lại của 30 thẻ cào: 600.000 đồng

- 15 thẻ cào điện thoại nhãn hiệu V2, mệnh giá 50.000 đồng gồm các seri: 10010883741722; 10010883741723; 10010883741724; 10010883741725; 10010883741727; 10010883741728; 10010883741729; 10010883741730; 10010883741732; 10010883741733; 10010883741734; 10010883741735; 10010883741738; 10010883741739; 10010883741740; Giá trị còn lại của 15 thẻ cào: 750.000 đồng.

- 07 thẻ cào nạp tiền điện thoại nhãn hiệu V2, mệnh giá 100.000 đồng gồm các số seri: 10010925229243; 10010925229244; 10010925229245; 10010925229248; 10010925229249; 10010925229250; 10010925229242; Giá trị còn lại của 07 thẻ cào: 700.000 đồng.

2. Tổng giá trị thiệt hại là 3.850.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 34/CT-VKS-NĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn truy tố Đậu Đình Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đậu Đình Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đậu Đình Đ mức án từ 9 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2023/HSST ngày 18/5/2023 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 21 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2025.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Đậu Đình Đ đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã biết hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng đã có lời đầy đủ tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Đậu Đình Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Vào 14 giờ 50 phút ngày 13/4/2025, tại khu vực xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Đậu Đình Đ có hành vi lợi dụng sở hở của chủ sở hữu đã lén lút trộm cắp tài sản là một chiếc hộp nhựa bên trong đựng 110 chiếc thẻ cào điện thoại của các nhà mạng V1, M1, V2 của ông Biện Đình V có giá trị là 3.850.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về áp dụng hình phạt chính: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã bị Toà án nhân dân thành phố Vinh xét xử 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội trộm cắp tài sản, đang trong thời gian chấp hành án tại địa phương lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và phải tổng hợp hình phạt theo khoản 5 Điều 65 và khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai cáo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo có bà nội tham gia dân công hoả tuyến được Bộ cấp giấy chứng nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét thấy: Bị cáo đang có “án tích” lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Đối với tài sản là một hộp nhựa hình trụ tròn bên trong có 110 thẻ cào điện thoại, đã trả lại cho bị hại ông Biện Đình V, không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Đối với 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu X-Men neo, màu xanh đen, không biển số, xe đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra đã trả lại cho chủ sở hữu là Phạm Thị Thùy A là đúng quy định nên không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu nên không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn tại phiên tòa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đậu Đình Đ 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2023/HSST ngày 18/5/2023 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2025. (được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 15/02/2023 đến ngày 24/02/2023 theo Bản án hình sự sơ thẩm số 130/HSST/2023 ngày 18/5/2023 của Toà án nhân dân thành phố Vinh).
  2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 và Điều 24 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đậu Đình Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - Chi cục Thi hành án DS huyện Nam Đàn;
  • - Cơ quan điều tra, Thi hành án hình sự;
  • Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Hoàng Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đậu Đình Đàn - TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger