|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 09, 13-6-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Đảo
Ông Nguyễn Văn Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Thân Thị Hồng Ninh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 và 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
- Điểu A M1, sinh năm 2006, tại Bình Phước; nơi cư trú: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: X tiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu M và bà Thị C; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2025 cho đến nay “có mặt”
- Điểu Tuấn D, sinh năm 2006 tại Bình Phước; nơi cư trú: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: X tiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu N (đã chết) và bà Thị N1 (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2025 cho đến nay “có mặt”
Người làm chứng:
- - Ông Điểu Chí C1, sinh năm 2010, nơi cư trú: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”
- Người giám hộ cho Điểu Chí C1: Bà Nguyễn Thị T, nơi cư trú: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”
2
- Ông Điểu N2, sinh năm 1969, nơi cư trú: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Điểu A M1 và Điểu Tuấn D là bạn quen biết với nhau và cùng là đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu mua ma túy về để sử dụng chung nên trưa ngày 05/01/2025; Điểu Tuấn D rủ Điểu A đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, lúc này Điểu A chỉ có 10.000đ nên không đủ để mua ma túy, do vậy Điểu Tuấn D rủ Điểu A M1 đi cầm chiếc điện thoại của M1 để lấy tiền mua ma túy thì M1 đồng ý. Sau đó M1 điều khiển xe máy BKS: 93T9-5735 chở D đến tiệm điện thoại để cầm điện thoại được 300.000đ, cả hai thỏa thuận Dương mượn Mốt 100.000 đồng để góp được 200.000 đồng với mục đích mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Sau đó M1 chở D đi ra khu vực gần chùa L thuộc Phường S, thị xã P, tại đây M1 hỏi D có “nồi” chưa (tức là dụng cụ sử dụng ma túy đá có đặc điểm bằng thủy tinh, một đầu hình ống, một đầu hình móc câu) thì D nói chưa có nên A M1 nói D mua thêm “nồi”, lúc này M1 dừng xe ở ngoài còn D vào gặp một người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch), mua một cái “nồi” với giá 50.000đ và 01 tép ma túy với giá 200.000đ. Sau đó, D cất cái nồi vào trong túi quần bên trái, còn ma túy cầm trên tay trái và lên xe mô tô để M1 chở về. Khi đi qua khu vực cầu Đ thuộc phường T, thị xã P, cả hai ghé quán nước để M1 vào mua một chai nước suối, 01 hộp quẹt màu trắng và 01 ống hút nhựa rồi cùng nhau đi về nhà. Trên đường về D và M1 tiếp tục ghé mua rượu và rủ Điểu Chí C1, sinh năm: 2010, trú tại thôn B, xã P, huyện B đến nhà D để cùng uống rượu. Khi về đến nhà D thuộc thôn B, xã P, huyện B, D đưa chai nước, hộp quẹt khò màu trắng, 01 cái ống hút nhựa và 1 tép ma túy cho M1 để lắp thành một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá hoàn chỉnh và đổ ma túy vào “nồi”. Sau khi có bộ dụng cụ sử dụng ma túy, M1 đưa lại cho D, lúc này D dùng quẹt khò đốt nóng ma túy đá trong nồi và hút khoảng 3 hơi rồi đưa lại cho M1 tiếp tục sử dụng. Sau khi M1 hút khoảng 3 hơi thì hộp quẹt bị hư nên đã đi ra phía sau nhà của D để uống rượu. Do lúc này không có chai nước rót rượu nên A M1 sử dụng chai nhựa đã sử dụng ma túy để đựng rượu, còn nắp chai có chứa “nồi”, ống hút thì giữ lại. Khoảng 10 phút sau có Điểu Chí C1 đến và tham gia uống rượu cùng. Được một lúc thì M1 nhờ C1 đi lấy 01 chai nhựa để rót nước nên C1 đưa cho A M1 chai nhựa ở gần đó, sau đó M1 lấy hộp quẹt màu đỏ đi vào trong nhà, sử dụng chai nhựa trên và gắn nắp chai có chứa nỏ, dùng hộp quẹt hơ nóng cái nỏ và hút ma túy được một hơi thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện B phát hiện bắt quả tang.
Tang vật thu giữ:
01 chai nhựa, nắp màu xanh dương có đục 02 lỗ; 01 hộp quẹt màu trắng (đã bị hư); 01 hộp quẹt màu đỏ; 01 dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh, một đầu hình ống, một đầu hình móc câu; 01 ống hút trong suốt, sọc trắng và 01 xe mô tô BKS: 93T9-5735.
3
Kết quả xét nghiệm ma túy trong nước tiểu đối với Điểu A và Điểu Tuấn D có dương tính với chất ma túy (Methamphetamine), Điểu Chí C1 âm tính với chất ma túy.
Kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 09/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chất màu nâu (ký hiệu M) bám dính trong 1 ống thủy tinh một đầu uốn cong hình bầu tròn được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0221 gam. H lại sau giám định: Không.
Bản cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 22/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Điểu A M1 và Điểu Tuấn D về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Điểu A M1 và Điểu Tuấn D cùng mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Đề nghị xử lý vật chứng: tịch thu tiêu huỷ đối với 01 chai nhựa, nắp màu xanh dương có đục 2 lỗ, 01 hộp quẹt màu trắng, 01 hộp quẹt màu đỏ, 01 dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tỉnh (1 đầu hình ống, 1 đầu hình móc câu), 1 ống hút trong suốt.
Trong quá trình điều tra, các bị cáo Điểu A M1 và Điểu Tuấn D đã khai nhận bản thân đã cùng nhau thực hiện hành vi “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo đúng nội dung Cáo trạng đã truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo:
Xét thấy các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định, kết luận giám định, phiếu xét nghiệm, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của người làm chứng phù
4
hợp về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 05/1/2025 Điểu A M1 và Điểu Tuấn D cùng nhau góp tiền và đi ra khu vực chùa L thuộc phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước mua ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 250.000 đồng. Sau đó M1 và D đem về nhà D tại thôn B, xã P, huyện B và cùng tổ chức sử dụng ma túy với nhau. Khi đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang.
Đối chiếu với những hành vi nêu trên thì hành vi của các bị cáo Đ A M1 và Điểu Tuấn D đã cấu thành tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo là đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân và đồng phạm.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội để người dân biết nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, tránh xa các tệ nạn xã hội về ma túy.
Tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt cho bị cáo cần xem xét:
Các bị cáo Điểu A M1 và Điểu Tuấn D cùng có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
.Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Đối với đối tượng nữ giới bán ma túy cho Điểu A và Điểu Tuấn D. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Đối với Điểu Chí C1, quá trình điều tra xác định Điểu A có nhờ C1 đi lấy chai nước cho M1 để M1 sử dụng làm dụng cụ hút ma túy, tuy nhiên khi đưa chai nước thì C1 không biết M1 sử dụng để hút ma túy và C1 cũng không được các bị cáo rủ sử dụng ma tuý cùng, cũng như không chứng kiến các bị cáo tổ chức sử dụng ma tuý, do đó không đề cập xử lý.
5
Đối với Điểu T1 là người giao xe mô tô biển kiểm soát 93T9-5735 cho Điểu Tuấn D, T1 không biết D sử dụng xe mô tô trên vào mục đích phạm tội, do đó không đề cập xử lý.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,0221 gam Methamphetamine là vật chứng của vụ án và đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
- Đối với xe mô tô biển số kiểm soát 93T9 – 5735 là phương tiện các bị caó sử dụng vào mục đích phạm tội. Quá trình điều tra chưa làm rõ được nguồn gốc xe mô tô nên Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
- Đối với 01 chai nhựa, nắp màu xanh dương có đục 2 lỗ, 01 hộp quẹt màu trắng, 01 hộp quẹt màu đỏ, 01 dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tỉnh (1 đầu hình ống, 1 đầu hình móc câu), 1 ống hút trong suốt là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 106, Điều 260, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Tuyên bố các bị cáo Điểu A M1 và Điểu Tuấn D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Đ A M1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 05/01/2025.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Điểu Tuấn D 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 05/01/2025.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
6
Tịch thu tiêu huỷ đối với 01 chai nhựa, nắp màu xanh dương có đục 2 lỗ, 01 hộp quẹt màu trắng, 01 hộp quẹt màu đỏ, 01 dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tỉnh (1 đầu hình ống, 1 đầu hình móc câu), 1 ống hút trong suốt.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0008949 ngày 25/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập)
4. Quyết định tạm giam các bị cáo Điểu A và Điểu Tuấn D để đảm bảo thi hành án.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Điểu A M1 và Điểu Tuấn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
6. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hải Ly |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
