Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – GIA LAI

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày: 11/12/2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Lân .
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1. Ông Đặng Hữu Lộc.
    • 2. Ông Phan Thanh Long.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Đặng Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Gia Lai.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Gia Lai xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 04/2025/HSST-QĐ ngày 21/8/2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 06/2025/HSST-QĐ ngày 19/9/2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 07/2025/HSST-QĐ ngày 30/9/2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 08 /2025/HSST-QĐ ngày 30/10/2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 10/2025/HSST-QĐ ngày 27/11/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Vũ Ngọc A; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 06/3/2007 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 07 tháng 0 ngày) tại B, Hải Dương (cũ) (nay là B, Hải Phòng); nơi cư trú: thôn L, xã T, tỉnh Gia Lai; số CCCD: [...], ngày cấp: 08/8/2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: không xác định và bà Vũ Thị M, sinh năm: 1991; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 06/5/2025 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định cũ (nay là Toà án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai) xử phạt 04 (bốn) tháng tù về “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 34/2025/HS-ST ngày 06/5/2025. Đã chấp hành xong.
  • - Ngày 27/5/2025 bị Phòng C1 Công an tỉnh B (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 45/QĐ-XPHC ngày 27/5/2025 về hành vi trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong.

Bị cáo đang bị bắt, tạm giam tại Phân trại tạm giam P – Cơ sở 1 thuộc Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh G. (Bị cáo có mặt tại phiên toà)

  1. Họ và tên: Nguyễn Mai Trọng V; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 18/5/2004 tại T, Bình Định (cũ) (nay là Tuy Phước Đ, Gia Lai); nơi cư trú: thôn B, xã T, tỉnh Gia Lai; số CCCD: [...]; ngày cấp: 10/5/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1977 và bà Mai Thị L, sinh năm: 1979; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 06/5/2025 bị Toà án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai) xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 34/2025/HS-ST ngày 06/5/2025.
  • - Ngày 27/5/2025 bị Phòng C1 Công an tỉnh B (cũ) ra tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 44/QĐ-XPHC ngày 27/5/2025 về hành vi trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong.

Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam A1-C10-Bộ C2 được trích xuất về tạm giam tại Phân trại tạm giam P – Cơ sở 1 thuộc Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh G để thực hiện việc xét xử vụ án. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

* Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Công T, sinh năm: 1973; nơi cư trú: thôn C, xã C, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1975; nơi cư trú: thôn H, xã N, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Thanh H, sinh ngày: 15/9/2009; nơi cư trú: thôn L, xã T, tỉnh Gia Lai. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 06/10/2024, Nguyễn Thanh H sinh ngày 15/9/2009 ở thôn L, P, T, Bình Định (cũ) điều khiển xe mô tô biển số 77G1-750.28 (xe của bà Quách Thị Hồng P là mẹ của H) chở Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V từ huyện T, tỉnh Bình Định (cũ) đến cầu Đ thuộc xã C, huyện P, tỉnh Bình Định cũ (nay là xã Đ, tỉnh Gia Lai) để dạo chơi. Khi đến đoạn đường ĐT639 thuộc thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định cũ (nay là thôn C, xã C, tỉnh Gia Lai), cả ba trông thấy 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ - đen, biển số 77E1 – 187.96 của ông Nguyễn Công T (sinh năm: 1973) ở thôn C, xã C, huyện P cũ (nay là thôn C, xã C, tỉnh Gia Lai) để tại lề phía Tây đường ĐT639, không có người trông coi,

Vũ Ngọc A rủ rê V và H: “Giờ anh em mình không có xe đi, hay là lấy xe này để về ba anh em mình đi lại”, V và H đồng ý.

H chở V và A đến gần xe mô tô rồi dừng lại để Anh xuống trộm xe, Anh dắt bộ một đoạn khoảng 15 - 20 mét, H điều khiển xe 77G1 - 750.28 chở V ngồi phía sau và H dùng chân đẩy Anh ngồi trên xe mô tô vừa trộm được đi khoảng 200 - 300 mét, rồi rẽ vào đoạn đường đất vắng người dừng lại. Vì là thợ sửa xe nên H nối dây ổ khóa xe đề nổ máy, Anh điều khiển xe mô tô biển số 77E1 - 187.96 vừa trộm được, H chở V về T, trên đường đi qua đoạn bờ đê gần sông T (một nhánh sông K), Anh tháo biển số xe 77E1 - 187.96 vứt bỏ xuống sông. Sau khi trộm được xe, V và Anh sơn lại xe mô tô biển số 77E1 - 187.96 từ màu đỏ, đen thành màu trắng, đen; Đồng thời, cả ba đục phá số khung và số máy, A sử dụng xe này để đi lại.

Ngoài lần trộm cắp ngày 06/10/2024 thì khoảng 17 giờ 00 phút ngày 07/10/2024, Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V đến bãi biển T khu phố T, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định cũ (nay là thôn T, xã C, tỉnh Gia Lai) để tắm biển. Khi đến nơi, cả hai thấy xe mô tô biển số 77E1-186.35 hiệu FANLIM của ông Nguyễn Văn T1 (sinh năm: 1975) ở thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định cũ (nay là thôn H, xã N, tỉnh Gia Lai) để trên đường đất gần nhà dân không người trông coi, V và Anh lén lút lấy trộm xe mô tô này đem về sơn lại xe màu đen, đục phá số khung. Anh tháo biển số 77E1-186.35 gắn vào chiếc xe đã trộm vào ngày 06/10/2024, V sử dụng xe mô tô hiệu FANLIM này để đi lại. Tại thời điểm bị phát hiện, Vũ Ngọc A, Nguyễn Mai Trọng V và Nguyễn Thanh H bị Phòng C1 Công an tỉnh B (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính: H bằng hình thức phạt cảnh cáo, V và Anh bằng hình thức phạt tiền. Đã chấp hành xong.

Theo Kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTTHS ngày 04/02/2025, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P (cũ) kết luận:

  • - 01 (một) xe mô tô gắn biển số 77E1-186.35, loại xe Sirius, màu sơn trắng, vị trí nơi đóng số khung, số máy bị đục, không xác định được số máy, số khung, xe đã qua sử dụng có giá tại thời điểm bị trộm là 2.700.000 đồng.
  • - 01 (một) xe mô tô không gắn biển số, nhãn hiệu FANLIM, màu sơn đen, số máy: VTTJL1P52FMH012324, vị trí nơi đóng số khung bị đục, không xác định được số khung, xe đã qua sử dụng có giá tại thời điểm bị trộm là 1.500.000 đồng.

* Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ và xử lý trả lại: 01 (một) xe mô tô gắn biển số 77E1-186.35, loại Sirius màu sơn trắng, số khung số máy có dấu hiệu bị đục, không xác định được cho ông Nguyễn Công T; 01 (một) xe mô tô không gắn biển số, nhãn hiệu FANLIM, màu sơn đen, số máy: VTTJL1P52FMH012324, vị trí số khung bị đục, không xác định số khung, số máy cho ông Nguyễn Văn T1.

Ngày 25/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (cũ) ra Quyết định trưng cầu Phòng C1 Công an tỉnh B (cũ) giám định số máy, số khung nguyên thủy của 02 xe mô tô. Theo Kết luận giám định số 526/KL-KTHS ngày 05/12/2024 của Phòng C1 Công an tỉnh B (cũ) kết luận:

  • + Xe mô tô gắn biển số 77E1-186.35, loại Sirius, màu sơn: Trắng gửi giám định có: số khung bị đục phá, phục hồi số khung nguyên thủy là RLCSC5C6H0DY009417; số máy bị đục phá, phục hồi số máy nguyên thủy là 5C6H-009432.
  • + Xe mô tô không gắn biển số, nhãn hiệu FANLIM, màu sơn: Đen gửi giám định có: số khung bị đục phá, phục hồi số khung nguyên thủy là VTTDCH033TT 012324.

* Về dân sự: Bị hại ông Nguyễn Công T và ông Nguyễn Văn T1 đã nhận lại được tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu gì khác về phần dân sự, đồng thời, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với hai bị cáo.

Tại Cáo trạng số: 28/CT-VKSPC, ngày 26 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Gia Lai) đã truy tố bị cáo Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Gia Lai, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V về tội danh và khung hình phạt đã truy tố và không có thay đổi, bổ sung gì thêm.

  • - Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để xử phạt bị cáo Vũ Ngọc A từ 03 tháng đến 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Mai Trọng V từ 06 tháng đến 09 tháng tù (áp dụng khoản 1 Điều 56 để tổng hợp hình phạt 06 tháng tù tại Bản án số: 34/2025/HS-ST ngày 06/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (cũ) đối với bị cáo Nguyễn Mai Trọng V).
  • - Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không.

Tại phiên tòa, trong phần tự bào chữa, bị cáo Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo thực sự ăn năn, hối cải và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1]. Xét về mặt thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: ở các giai đoạn tố tụng này, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đảm bảo, các nguyên tắc trong tố tụng hình sự được tôn trọng và thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật hình sự.

[2]. Xét nội dung của vụ án và hành vi của các bị cáo thực hiện, tính chất nguy hiểm của hành vi, HĐXX thấy rằng:

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi diễn biến của vụ án như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của các bị cáo trước Tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại – Nguyễn Công T và Nguyễn Văn T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án – Nguyễn Thanh H, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận định giá tài sản đã được HĐXX thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận:

Các bị cáo Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V đều là những người có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật. Nhưng vì muốn có xe mô tô để sử dụng, hai bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của các chủ sở hữu tài sản, Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V và Nguyễn Thanh H đã lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 77E1 - 187.96 của ông Nguyễn Công T có giá trị 2.700.000 đồng vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 06/10/2024 tại thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định cũ (nay là thôn C, xã Đ, tỉnh Gia Lai). Ngoài ra, Nguyễn Mai Trọng V và Vũ Ngọc A đã lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 77E1-186.35 của ông Nguyễn Văn T1 có giá trị 1.500.000 đồng vào ngày 07/10/2024 tại khu phố T, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định cũ (nay là thôn T, xã C, tỉnh Gia Lai). Hành vi nêu trên của các bị cáo, HĐXX thấy rằng: trong vụ án, tuy có nhiều người tham gia chưa thể hiện rõ vụ án có tổ chức chặt chẽ, chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó, nổi lên vai trò của bị cáo Vũ Ngọc A, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nhưng bị cáo là người khởi xướng, trực tiếp dắt xe, cùng với Nguyễn Thanh H và bị cáo Nguyễn Mai Trọng V tiến hành tháo biển số, đục phá số khung, số máy và sơn, sửa lại làm thay đổi hình dạng của xe nhằm qua mắt bị hại, là người trực tiếp điều khiển xe mô tô 77E1 - 187.96 có giá trị là 2.700.000 đồng và sử dụng xe mô tô trên để đi lại. Đồng thời, cùng với Nguyễn Mai Trọng V tiếp tục trộm cắp xe mô tô biển số 77E1-186.35 có giá trị 1.500.000 đồng và thực hiện việc sơn, sửa lại nhằm che dấu tội phạm; xe mô tô trên do bị cáo Nguyễn Mai Trọng V sử dụng để đi lại. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Phòng C1 Công an tỉnh B (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hai bị cáo bằng hình thức phạt tiền đối với hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 77E1-186.35 có giá trị 1.500.000 đồng, đã chấp hành xong nên không xem xét trách nhiệm tiền sự của lần trộm cắp này.

Hành vi nêu trên của hai bị cáo đủ yếu tố để cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Gia Lai) truy tố bị cáo Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V với tội danh, khung hình phạt nêu trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.

[3]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng:

Mặc dù, tại Bản án 34/2025/HS-ST ngày 06/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (cũ) xử phạt bị cáo Vũ Ngọc A 04 tháng tù và Nguyễn Mai Trọng V 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tuy nhiên, xét tại thời điểm phạm tội thì lần trộm cắp 02 xe mô tô trên địa bàn huyện P, tỉnh Bình Định (cũ) xảy ra trước. Do vậy, HĐXX không xem là có tiền án đối với hai bị cáo đối với Bản án 34/2025/HS-ST ngày 06/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (cũ) và không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm. Tuy nhiên, hai bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên HĐXX không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đối với hai bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố và cũng như tại phiên tòa, hai bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho các bị hại, đồng thời, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 để xử phạt các bị cáo. Hai bị cáo là những thanh thiếu niên mới trưởng thành, suy nghĩ, hành động còn nhiều bồng bột nên HĐXX xét thấy tạo điều kiện cho các bị cáo cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm làm lại cuộc đời để trở thành công dân có ích cho xã hội. Do vậy, HĐXX xem xét xử phạt hai bị cáo trong khung hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp. Bị cáo Nguyễn Mai Trọng V đang chấp hành án hình phạt 06 tháng tù tại Bản án 34/2025/HS-ST ngày 06/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (cũ). Do đó, HĐXX áp dụng Điều 56 BLHS để tổng hợp hình phạt của các bản án, buộc bị cáo Nguyễn Mai Trọng V phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

[4]. Xét tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của các bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Các bị cáo cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự phân công, câu kết chặt chẽ, do đó, HĐXX xác định đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Vũ Ngọc A là người rủ rê, khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Nguyễn Mai Trọng V giúp sức cho bị cáo A thực hiện hành vi phạm tội. Lẽ ra bị cáo A phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo V nhưng xét thấy tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Vũ Ngọc A là người dưới 18 tuổi nên HĐXX xem xét áp dụng các quy định tại Điều 90, 91 BLHS, khoản 1 Điều 119 và khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên về nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội (mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định) đối với bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5]. Các vấn đề khác:

  • - Đối với Nguyễn Thanh H có hành vi cùng Nguyễn Mai Trọng V và Vũ Ngọc A trộm cắp xe mô tô biển số 77E1 - 187.96 vào ngày 06/10/2024 có giá 2.700.000 đồng, tuy đã đủ định lượng nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp H chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (15 tuổi 21 ngày) nên không xử lý hình sự mà xử phạt vi phạm hành chính đối với H là có căn cứ.
  • - Xe mô tô biển số 77G1-750.28 của bà Quách Thị Hồng P (mẹ của Nguyễn Thanh H), quá trình làm việc bà P không biết Nguyễn Thanh H sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên Cơ quan CSĐT không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà P là có căn cứ.
  • - Qua tra cứu thông tin, xác định xe mô tô biển số 77E1-197.96 đứng tên chủ xe là ông Mai Công C ở xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ). Quá trình làm việc ông T trình bày mua xe này của ông C vào khoảng năm 2018, ông Chính xác N vào khoảng năm 2017-2018 ông có bán xe này cho ông Nguyễn Công T, việc mua bán xe viết giấy tay, không làm thủ tục sang tên, hiện tại ông T là chủ sở hữu của xe mô tô này.

[6]. Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp khác:

[6.1]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Nguyễn Công T và Nguyễn Văn T1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên HĐXX không xem xét.

[6.2]. Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý trả lại: 01 (một) xe mô tô gắn biển số 77E1-186.35, loại Sirius màu sơn trắng, số khung số máy có dấu hiệu bị đục, không xác định được cho ông Nguyễn Công T; 01 (một) xe mô tô không gắn biển số, nhãn hiệu FANLIM, màu sơn đen, số máy: VTTJL1P52FMH012324, vị trí số khung bị đục, không xác định số khung, số máy cho ông Nguyễn Văn T1 theo đúng quy định nên HĐXX không xem xét.

[7]. Về án phí: Căn cứ theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên được HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 119 và khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Vũ Ngọc A;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Mai Trọng V;

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc A 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam ngày 16/10/2025.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Mai Trọng V 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2025/HS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định cũ (nay là Toà án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai). Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là: 12 (mười hai) tháng tù. Bị cáo đã chấp hành án từ ngày 12/8/2025 nên được khấu trừ.

    Tiếp tục tạm giam hai bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

  3. Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không.
  4. Về án phí: Bị cáo Vũ Ngọc A và Nguyễn Mai Trọng V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
  5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

* Nơi nhận:

  • - Phòng Giám đốc, kiểm tra, thanh tra và Thi hành án TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND khu vực 3 – Gia Lai;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ – CA T. Gia Lai;
  • - VP Cơ quan CSĐT CA T. Gia Lai;
  • - Phòng THA DS khu vực 3 - Gia Lai;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Lê Lân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Ngọc A và đồng phạm - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger