Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - NINH BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Bản án số: 32/2025/HS-ST
Ngày 05 - 12 - 2025
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Dự
Ông Trần Văn Nghi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ninh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - N sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Văn Q, sinh năm 1992 tại tỉnh Ninh Bình; Căn cước công dân số 0370920025xx; Nơi cư trú: tổ dân phố Đ, phường Đ, tỉnh Ninh Bình (trước đây là xóm Đ, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Phạm Thị S; có vợ Hoàng Thị Huyền T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08/6/2025 đến ngày 16/6/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh N cho đến nay (có mặt)
  2. Phạm Quang L, sinh năm 1996 tại tỉnh Ninh Bình; Căn cước công dân số 0370960005xx; Nơi cư trú: tổ dân phố Đ, phường Đ, tỉnh Ninh Bình (trước đây là xóm Đ, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L1 và bà Trần Thị T1; chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08/6/2025 đến ngày 16/6/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh N cho đến nay (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Pịt Thị X, sinh năm 2004; Nơi ĐKHKTT: bản X, xã Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Minh T2, sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT: tổ dân phố P, phường Đ, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Trần Bảo Q1, sinh năm 1993; anh Phạm Văn P, sinh năm 1986 (đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 08/6/2025, Phạm Văn Q và Phạm Quang L ngồi ăn đêm, uống rượu tại quán gần cổng Công ty M1 thuộc phường B, thành phố H, tỉnh Ninh Bình (nay là phường H, tỉnh Ninh Bình). Trong khi uống rượu L rủ chị Pịt Thị X, sinh năm 2004; Nơi ĐKHKTT: bản X, xã Y, tỉnh Nghệ An đến uống rượu cùng. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, L nói với Q “làm tý cho giải rượu không?”, Q hiểu ý L là rủ sử dụng ma tuý nên Q đồng ý và nói với L “cũng được”. Biết L không có tiền nên Q đưa cho L thẻ ATM của Ngân hàng TMCP B mang tên Phạm Văn Q và mật khẩu cho L để L đi rút tiền mua ma tuý về sử dụng. L đồng ý rồi bắt taxi đi rút số tiền 5.000.000 đồng để đi mua ma tuý còn Q và chị X đi xe taxi đến nhà nghỉ Á thuộc xóm C, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Ninh Bình) và thuê phòng 304 nằm đợi L. Sau khi rút tiền L đi taxi đến khu vực cổng khu đô thị X để tìm mua ma tuý K và K1. Tại đây L gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua nửa chỉ K và 02 viên Kẹo với tổng số tiền là 2.000.000 đồng, người này cầm tiền và bảo L lấy ở chỗ nào để anh ta giao. L bảo người này giao ma tuý tại nhà nghỉ Á mặt đường 10, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình sau đó L đi taxi về nhà để lấy đèn quay mang đến nhà nghỉ Á. Khoảng 30 phút sau người đàn ông bán ma tuý cho L đi taxi qua cửa nhà nghỉ hạ kính phía sau xuống và bảo L đến chỗ chân cầu vượt Khánh Hoà lấy ma tuý. L đi bộ đến khu vực trên thì nhìn thấy 01 túi nilon bên trong có 02 viên ma tuý K1, 01 tờ tiền 2.000 đồng vo tròn mở ra bên trong có ma tuý Ke đã xào sẵn, 01 ống hút nhựa. L cầm về phòng 304 nhà nghỉ Á. Lên đến phòng L nói “đây em mua về đây rồi” sau đó L mang ma tuý vừa mua được đặt lên ga phía cuối giường trong cùng và 01 đèn nháy chiếu sáng cùng 01 ống hút nhựa. L lấy ra 01 túi màu trắng bên trong có 02 viên ma tuý K1, bỏ 01 viên ma tuý Kẹo cho vào miệng nuốt và uống cùng nước lọc sau đó đặt túi nilon cùng 01 viên Kẹo trên giường. Thấy vậy Q đến cầm túi nilon lấy viên Kẹo bẻ làm đôi cho một nửa vào miệng uống nước cùng nước ngọt còn nửa viên Q mời X nhưng X không sử dụng nên Q để nửa viên còn lại ở mặt tủ kệ kê giữa 02 chiếc giường trong phòng 304 mục đích để sử dụng tiếp, vỏ túi nilon Q vứt dưới nền phòng. Sau đó L cắm đèn quay, kết nối mở loa và nằm nghe nhạc. Khoảng mấy phút sau L dậy lấy tờ tiền 2.000 đồng bên trong có ma tuý Ketamine đã xào sẵn, L dùng ống hút nhựa để sử dụng ma tuý Ketamine rồi cầm mời X nhưng X không sử dụng. Sau đó L bảo Q “Anh dậy chơi đi” rồi L đặt tờ tiền xuống mặt tủ kệ kê ở đầu giường, Q ngồi dậy cầm tờ tiền 2.000 đồng trên có ma tuý Ketamine dùng ống hút nhựa hít một ít ma tuý Ketamine trên tờ tiền. Sử dụng ma tuý xong Q đặt tờ tiền trên có ma tuý để ở mặt tủ kệ ở giữa 02 giường rồi nằm xuống nghe nhạc. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày Tổ công tác Công an tỉnh N đến phòng 304 nhà nghỉ Á kiểm tra thì L cầm tờ tiền 2.000 đồng đổ hết ma tuý lên mặt tủ kệ kê đầu giường vứt tờ tiền trên mặt giường trong cùng, cầm ống hút nhựa ném vào trong nhà vệ sinh. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, thu giữ trong phòng 304 gồm:

  • - Thu trên mặt tủ ở giữa hai đầu giường chất tinh thể màu trắng cho vào mảnh giấy màu trắng; 01 mảnh viên nén màu xám hình dạng không xác định được bỏ vào 01 túi nilon có đường viền màu đỏ KT (6 x 9,5) cm. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu K1;
  • - Thu 01 ống hút nhựa màu trắng có hình hoa văn dài 12 cm được niêm phong ký hiệu K2;
  • - Thu giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng bên trong có lắp sim 0974.412.060 được niêm phong ký hiệu K3;
  • - Thu giữ của Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen bên trong có lắp 02 sim số 0375.972.876 và 0917.379.283 được niêm phong ký hiệu K4;
  • - Thu giữ của X 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu trắng bên trong có lắp sim 0392.615.627 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu trắng bên trong có lắp sim 0358.269.263 được niêm phong ký hiệu K5;
  • - Thu giữ 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng được niêm phong ký hiệu K6; 01 vỏ túi nilon màu trắng có đường viền màu xanh KT (4,2 x 4) cm; 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn Q; 01 thẻ ATM mầu xanh trên thẻ in dòng chữ “Pham Van Q2”; 01 loa cầm tay hình tròn màu xanh có tay cầm màu vàng trên loa có in chữ Harman/Kardon; 01 đèn nháy màu trắng.

Tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu K1, cân xác định khối lượng, chất lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ khi phát hiện hành vi vi phạm của Q và L có khối lượng 0,0602 gam ký hiệu M1; cân xác định khối lượng mảnh viên nén màu xám có khối lượng 0,1662 gam ký hiệu M2; 01 ống nhựa màu trắng ký hiệu K2 cùng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng ký hiệu K6 có bám dính chất bột màu trắng gửi trưng cầu giám định tại Phòng K2 Công an tỉnh N.

Tại bản kết luận giám định số 473/KLGĐ-KTHS-MT ngày 13 tháng 6 năm 2025 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận:

  • “- Mẫu giám định ký hiệu M1 có khối lượng là 0,0602 gam là ma tuý, loại Ketamine;
  • - Mẫu giám định ký hiệu M2 có khối lượng là 0,1662 gam là ma tuý, loại Methamphetaimine, MDMA, Ketamine;
  • - Chất bột màu trắng bám dính trong mẫu gửi giám định ký hiệu K2, K6 đều là ma tuý loại Ketamine. Lượng Ketamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng;
  • M là chất ma tuý có số thứ tự 247 thuộc bảng Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ;
  • Ketamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ;
  • MDMA là chất ma tuý có số thứ tự 11 thuộc bảng Danh mục IB, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Tiến hành thu mẫu nước tiểu của Phạm Văn Q, Phạm Quang L và Pịt Thị X gửi trưng cầu giám định tại Phòng K2 Công an tỉnh N.

Tại bản kết luận giám định số 474/KLGĐ-KTHS-MT ngày 13 tháng 6 năm 2025 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận: “Không tìm thấy chất ma tuý trong mẫu T3 gửi giám định. Tìm thấy MDMA và Ketamine trong mẫu T1, T2 gửi giám định”.

Ngày 22/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung gửi V Bộ C giám định chất ma tuý có khối lượng 0,1154 gam ma tuý loại Methamphetaimine, MDMA, Ketamine có hàm lượng, khối lượng cùng từng chất ma tuý.

Tại bản kết luận giám định số 4875/KL-KTHS ngày 01 tháng 7 năm 2025 của V Bộ C kết luận: “Trong mẫu ký hiệu M2 chất ma tuý Methamphetaimine có hàm lượng 2,5 % có khối lượng 0,0028 gam; Ketamine hàm lượng 3,7 % có khối lượng 0,0042 gam; MDMA có hàm lượng 34,8 % có khối lượng 0,041 gam".

Xử lý vật chứng:

Đối với 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu trắng bên trong có lắp sim 0392.615.627 và điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu trắng bên trong có lắp sim 0358.269.263 đã thu giữ của Pịt Thị X quá trình điều tra xác định 02 chiếc điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra quyết định trả lại 02 chiếc điện thoại trên cho chị Pịt Thị X theo quy định của pháp luật. Chị X đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.

Quá trình điều tra Phạm Văn Q và Phạm Quang L thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKS-KV4 ngày 29 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn Q, Phạm Quang L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q, Phạm Quang L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Phạm Văn Q, Phạm Quang L. Xử phạt:

  • + Bị cáo Phạm Văn Q từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/6/2025.
  • + Bị cáo Phạm Quang L từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/6/2025.

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 03 vỏ phong bì ký hiệu K3, K4, K5; 01 phong bì ký hiệu ĐT1; 01 phong bì ký hiệu VP. Trên mặt phong bì ghi “01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu K6 và 01 vỏ phong bì niêm phong số 473/KL-KTHS-MT”; 01 phong bì niêm phong số 473/KL-KTHS-MT niêm phong theo quy định trên mặt phong bì ghi: MẪU VẬT HOÀN TRẢ SAU GIÁM ĐỊNH gồm: 01 ống nhựa màu trắng có hình hoa văn và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong”; 01 phong bì ký hiệu M3. Trên mặt phong bì ghi: Vỏ phong bì niêm phong ban đầu; một vỏ túi nilon màu trắng; một mảnh giấy màu trắng; 01 phong bì ký hiệu ĐT2; 01 phong bì niêm phong số 473/KL-KTHS-MT niêm phong theo quy định trên mặt phong bì ghi: MẪU VẬT HOÀN TRẢ SAU GIÁM ĐỊNH mẫu vật hoàn trả gồm: M1 = 0,0265 gam là ma tuý, loại Ketamine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong trên mặt phong bì ghi “Bộ C, V số 4875/KL-KTHS, mẫu vật hoàn trả sau giám định niêm phong số 4875/KL-KTHS, số lượng: 1 chiếc”. Xét ma túy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các vật chứng còn lại là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và không có giá trị theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 loa cầm tay hình tròn màu xanh; 01 đèn nháy màu trắng.
  • - Trả lại cho bị cáo Phạm Văn Q: 01 Căn cước công dân mang tên Phạm Văn Q; 01 thẻ ATM màu xanh, trên thẻ in chữ nổi “PHAM VAN QUYET”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen, lắp kèm theo sim số 0375972876 và 0917379283 nhưng tiếp tục quản lý lại điện thoại di động để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
  • - Trả lại cho bị cáo Phạm Quang L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng kèm có sim số 0974.412.060 nhưng tiếp tục quản lý lại điện thoại di động để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

[8] Về một số tình tiết liên quan đến vụ án:

  • - Trong vụ án này có chị Pịt Thị X có tham gia ăn uống cùng các bị cáo Q và L. Tuy nhiên khi Q và L sử dụng trái phép chất ma tuý thì chị X không sử dụng nên chị X không có hành vi vi phạm.
  • - Đối với anh Nguyễn Minh T2 là quản lý của nhà nghỉ Á không biết Q và L thuê phòng nghỉ để sử dụng trái phép chất ma tuý đã báo hành vi các đối tượng trên sử dụng trái phép chất ma tuý nên không có hành vi vi phạm.
  • - Đối với nguồn gốc số ma tuý Methamphetamine, MDMA, Ketamine mà L đã mua của một nam thanh niên chỉ nghe tên là Q không biết tên, tuổi, địa chỉ tại ngã tư phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình (nay là phường H, tỉnh Ninh Bình) với giá 2.000.000 đồng do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N không có cơ sở để điều tra, xử lý.
  • - Đối với lượng ma tuý đã thu giữ của L và Q quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai nhận tiếp tục sử dụng hết số ma tuý trên nếu không bị phát hiện nên không có căn cứ các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[10] Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn Q, Phạm Quang L bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Văn Q và Phạm Quang L.

Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Q, Phạm Quang L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt:
    1. Bị cáo Phạm Văn Q 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/6/2025.
    2. Bị cáo Phạm Quang L 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/6/2025.
  2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 đèn nháy màu trắng; 01 loa cầm tay hình tròn màu xanh.

      (Số tiền 2.000 đồng hiện đang có tại tài khoản số 3949.0.1054125.00000 Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình theo Ủy nhiệm chi số 362 ngày 31/10/2025 của Công an tỉnh N)

    • - Tịch thu tiêu huỷ: 03 vỏ phong bì ký hiệu K3, K4, K5; 01 phong bì ký hiệu ĐT1; 01 phong bì ký hiệu VP. Trên mặt phong bì ghi “01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu K6 và 01 vỏ phong bì niêm phong số 473/KL-KTHS-MT”; 01 phong bì niêm phong số 473/KL-KTHS-MT niêm phong theo quy định trên mặt phong bì ghi: MẪU VẬT HOÀN TRẢ SAU GIÁM ĐỊNH gồm: 01 ống nhựa màu trắng có hình hoa văn và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong”; 01 phong bì ký hiệu M3. Trên mặt phong bì ghi: Vỏ phong bì niêm phong ban đầu; một vỏ túi nilon màu trắng; một mảnh giấy màu trắng; 01 phong bì ký hiệu ĐT2; 01 phong bì niêm phong số 473/KL-KTHS-MT niêm phong theo quy định trên mặt phong bì ghi: MẪU VẬT HOÀN TRẢ SAU GIÁM ĐỊNH mẫu vật hoàn trả gồm: M1 = 0,0265 gam là ma tuý, loại Ketamine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong trên mặt phong bì ghi “Bộ C, V số 4875/KL-KTHS, mẫu vật hoàn trả sau giám định niêm phong số 4875/KL-KTHS, số lượng: 1 chiếc”; 01 đèn nháy màu trắng.
    • - Trả lại cho bị cáo Phạm Văn Q: 01 Căn cước công dân mang tên Phạm Văn Q; 01 thẻ ATM màu xanh, trên thẻ in chữ nổi “PHAM VAN QUYET"; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen, lắp kèm sim số 0375972876 và 0917379283.
    • - Trả lại cho bị cáo Phạm Quang L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng lắp kèm sim số 0974.412.060.
    • Tiếp tục quản lý lại các điện thoại di động để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.

      (Chi tiết như biên bản giao vật chứng ngày 30/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4, tỉnh Ninh Bình).

  3. Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn Q, Phạm Quang L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 05/12/2025. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình: 01 bản;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình: 01 bản;
  • - VKSND khu vực 4 - Ninh Bình: 03 bản;
  • - Phòng PC04 Công an tỉnh Ninh Bình: 01 bản;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh: 01 bản;
  • - Phòng HS&NV CA tỉnh: 01 bản;
  • - Trại tạm giam số 1 CA tỉnh: 02 bản:
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình: 01 bản;
  • - Bị cáo: 02 bản;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 02 bản;
  • - Lưu hồ sơ: 02 bản;
  • - Lưu tòa, HCTP: 03 bản;
  • (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Trịnh Thị Hoài Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NINH BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger