Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày: 03/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Văn Minh.

2/ Ông Nguyễn Thành Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sang – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025 Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai dưới hình thức phiên tòa trực tuyến với điểm cầu Trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án, điểm cầu thành phần đặt tại cơ sở giam giữ (Nhà tạm giữ công an huyện H) đối với vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1/ TRẦN VĂN H (Tên gọi khác: Ba T) - Sinh năm 2001.

  • Nơi sinh: Bình Thuận.
  • Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
  • Trình độ học vấn: 6/12.
  • Giới tính: Nam.
  • Nghề nghiệp: Đi biển.
  • Cha: Trần Văn Đ.
  • Mẹ: Võ Thị B.
  • Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.
  • Vợ: Trương Thị Kim N (đã ly hôn).
  • Tiền án, tiền sự: Không.
  • Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực H.
  • Bị cáo có mặt.

2/ TRẦN THỊ NHƯ Ý - Sinh năm: 1997.

  • Nơi sinh: Bình Thuận.
  • Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
  • Trình độ học vấn: 11/12.
  • Nghề nghiệp: Làm nông.
  • Giới tính: Nữ.
  • Cha: Trần Hoàng K.
  • Mẹ: Nguyễn Thị Thanh H1 (đã chết);
  • Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư.
  • Chồng: Đỗ Quốc H2 (đã ly hôn).
  • Bị cáo có 1 người con, sinh năm 2020.
  • Tiền án, tiền sự: Không.
  • Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực H.
  • Bị cáo có mặt.

3/ TRẦN HUY KHÁNH - Sinh năm: 1994.

  • Nơi sinh: Bình Thuận.
  • Nơi đăng ký NKTT: Khu phố A, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • Chỗ ở hiện nay: Khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • Giới tính: Nam
  • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo.
  • Trình độ học vấn: 7/12.
  • Nghề nghiệp: Không.
  • Cha: Trần P (đã chết);
  • Mẹ: Nguyễn Thị H3 (đã chết);
  • Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
  • Vợ: Đỗ Thị T1.
  • Bị cáo có 3 người con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2021.
  • Tiền án, tiền sự: Không.
  • Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
  • Bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • 1/ Lê Văn D - Sinh năm 1967. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • 2/ Nguyễn Khánh M - Sinh năm 1990. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua công tác nắm tình hình, khoảng 07 giờ sáng ngày 29/4/2024, Tổ công tác Công an huyện H phối hợp với Công an thị trấn P đến kiểm tra tại phòng số 10 của nhà trọ 354A, thuộc khu phố P, thị trấn P, huyện H do Trần Văn H (B) thuê của ông Lê Văn D, sinh năm 1967, trú tại khu phố A, phường P, thành phố P để sống chung như vợ chồng với Trần Thị Như Ý. Khi Tổ công tác kiểm tra tại phòng trọ thì có Ý và Trần Huy K1 đang ở trong phòng, phát hiện bên cạnh tủ lạnh của phòng trọ có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 vỏ chai nhựa không màu, có nắp chai màu vàng, trên nắp chai đục thành 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút giải khát, 01 lỗ gắn một ống thủy tinh uốn cong một đầu thành hình tròn (còn gọi là nỏ), bên trong nỏ có chứa chất rắn màu nâu. Qua làm việc, Ý khai khai nhận bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá trên là của Trần Văn H mang ra sử dụng ma túy cùng với Ý và K1 vào tối ngày 28/4/2024 và những ngày trước đó. Tổ công tác tạm giữ số tang vật và mời Trần Văn H, Trần Huy K1, Trần Thị Như Ý về trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an, H, K1, Ý khai nhận đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép ma túy 05 lần vào các ngày 25, 26, 27 và 28/4/2024 tại phòng trọ phòng số 10, nhà trọ 354A do H và Ý thuê, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 25/4/2024, Trần Huy K1 đang đi bộ ở khu vực dốc Lầu Ông H4, thuộc phường P, thành phố P thì gặp một người quen biết ngoài xã hội tên N1 (không rõ nhân thân), K1 hỏi: “anh đi đâu về đó?”, N1 trả lời: “đi lấy đồ về”. Nghe N1 nói vậy, K1 nói tiếp: “cho em miếng” (nghĩa là K1 xin Nam một ít ma túy đá để sử dụng) thì N1 đồng ý, N1 lấy tép ma túy đá đổ ra bịch nylon cho K1 một ít, K1 cầm trên tay và nhờ N1 chở K1 đến trước phòng trọ của H. Khi đến phòng trọ của H, K1 gọi điện thoại nói H mở cửa, H nói với K1 đã đổi phòng trọ rồi, đồng thời H hỏi K1 đang ở đâu để H đến chở K1 qua chỗ trọ mới của H. Sau đó, H lấy xe mô tô của H (hiện chưa xác định biển số, xe đã bán) đến chở K1 về phòng trọ số A, nhà trọ 354A của H. Tại đây, K1 lấy tép ma túy của N1 vừa cho đưa cho H, nói H đổ ra để sử dụng, H lấy tép ma túy đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy của H có sẵn trong phòng rồi dùng quẹt gas đốt lên. Lúc này, Ý cũng ngồi xuống cùng sử dụng với K1 và H. H, K1, Ý sử dụng ma túy đến khoảng 02 giờ sáng ngày 26/4/2024 thì nghỉ. Khoảng 05 sáng cùng ngày, H đi lặn biển.

Lần thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 26/4/2024, H sau khi đi biển thì về lại phòng trọ tại khu phố P, thị trấn P. Sau khi ăn cơm xong, H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra, thấy bên trong nỏ còn ít ma túy nên H ngồi hút được hai hơi thì hết ma túy. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H lấy điện thoại cảm ứng, hiệu Redmi 9A của Ý gọi qua ứng dụng Zalo cho đối tượng tên Út H5 (không rõ nhân thân) hỏi mua 01 tép ma tuý đá với số tiền 200.000 đồng thì Út H5 đồng ý. Khoảng 05 phút sau, Út H5 gọi điện thoại lại cho H nói xuống lấy ma túy, H lấy xe mô tô của H đi đến khu vực chợ P1 gặp Út H5 lấy 01 tép ma túy và đưa số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H đem về phòng trọ, đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy của H rồi cùng với Ý và K1 sử dụng hết ma túy thì nghỉ. Đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, H tiếp tục đi biển.

Lần thứ ba: Khoảng 14 giờ ngày 27/4/2024, sau khi đi biển về, H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra, vét số ma túy đã sử dụng còn lại trong nỏ để sử dụng một mình được khoảng hai hơi thì hết. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H sử dụng điện thoại của Ý gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho đối tượng tên Út H5 hỏi mua 01 tép ma túy với số tiền 200.000 đồng, Út H5 nói: “em gọi cho H6 luôn đi, anh nói nó rồi”. H tiếp tục nhắn tin qua ứng dụng messenger cho đối tượng tên H6 (không rõ nhân thân) qua tài khoản “Nguyễn H6” nội dung: “anh làm em hai trăm” (nghĩa là H nói H6 bán cho H tép ma túy 200.000 đồng) thì H6 đồng ý, hẹn H đi đến khu vực Trường trung học cơ sở N2, thuộc phường P để lấy ma túy. Sau đó, H lấy xe mô tô của H chạy đến khu vực bên hông Trường trung học cơ sở N2 gặp một người thanh niên (không xác định được) đi xe mô tô hiệu Airblade (không rõ biển số) đến đưa cho H 01 tép ma túy, H đưa lại số tiền 200.000 đồng rồi đem tép ma túy về phòng trọ, đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy. H dùng quẹt gas đốt lên rồi cùng với Ý và K1 sử dụng hết.

Lần thứ tư: Khoảng 10 giờ sáng ngày 28/4/2024, K1 đang ở tại phòng trọ của H và Ý. Lúc này, do muốn sử dụng ma túy nên K1 nói với Ý: “em chạy qua bên chỗ dốc Lầu Ông H4 lấy giùm anh một triệu rồi lấy hai xị đồ, còn nhiêu chuyển khoản cho anh” (nghĩa là K1 nói Ý chạy đến dốc Lầu Ông H4, ở phường P, thành phố P lấy giùm Khánh 1.000.000 đồng của người phụ nữ quen biết ngoài xã hội tên T2 trả nợ rồi lấy 200.000 đồng ra để mua ma túy đá về cùng nhau sử dụng). Ý đồng ý, mượn xe mô tô (không xác định biển số) của người phụ nữ quen biết ngoài xã hội đến khu vực trên lấy tiền giúp cho K1. Sau khi lấy được tiền, Ý dùng điện thoại có sim số 0813.949.xxx, đăng nhập vào tài khoản Zalo tên “Bé” của Ý để gọi cho đối tượng tên Út H5, nói: “anh lấy giùm em hai trăm được không” (nghĩa là Ý nói Út H5 bán cho Ý 01 tép ma túy đá với số tiền 200.000 đồng), Út H5 nói: “được” thì Ý nói: “em đang chạy về”. Sau khi Ý về phòng trọ, khoảng 15 phút sau thì Út H5 đến phòng trọ của Ý và H ở khu phố P, thị trấn P. Ý ra mở cửa phòng trọ, Út H5 đưa tép ma túy đá cho Ý, Ý đưa lại 200.000 đồng cho Út H5. Sau khi mua được ma túy, K1 nói Ý cắt tép ma túy để sử dụng, Ý cắt gói ma tuý và đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy để sẵn trên bàn rồi Ý cùng K1 sử dụng. Sau khi hút được hai hơi, Ý đi ngủ, còn K1 ngồi sử dụng ma túy một mình. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H đi biển về, H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của H, bên trong còn ma túy mà Ý và K1 sử dụng còn lại, H dùng quẹt gas đốt lên hút được 02 đến 03 hơi thì hết ma túy trong nỏ. Khi sử dụng hết ma tuý trong nỏ, K1 hỏi H: “còn ma tuý không?”, H trả lời: “hết rồi” thì K1 nói: “báo giữ vậy ba, mới đi biển về hút bạo vậy!”.

Lần thứ năm: Khoảng 17 giờ ngày 28/4/2024, H lấy điện thoại của Ý gọi qua ứng dụng Zalo cho đối tượng tên Út H5 hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì Út H5 nói: “từ từ chờ xíu, có gì anh gọi lại”. Khoảng 05 phút sau, Út H5 gọi lại cho H nói: “chạy xuống lấy”. Sau đó, H điều khiển xe mô tô của H đi đến khu vực chợ P1 gặp Út H5 lấy 01 tép ma túy với số tiền 200.000 đồng rồi đem về phòng trọ. H lấy tép ma túy đá vừa mua được đổ hết vào bên trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi dùng quẹt gas đốt lên để cùng với K1 và Ý sử dụng. H, K1, Ý sử dụng đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì nghỉ. Đến khoảng 05 giờ sáng ngày 29/4/2024, H đi lặn biển, sau đó bị Tổ công tác Công an huyện H phối hợp với Công an thị trấn P đến kiểm tra và phát hiện như đã nêu trên.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 29/4/2024 thì Trần Văn H, Trần Thị Như Ý và Trần Huy K1 đều dương tính với chất ma túy trong cơ thể (Methamphetamine).

Tại bản kết luận giám định số 477/KL-KTHS ngày 04/5/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh B kết luận:

Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,0273 gam; là Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

  • - 01 xe mô tô biển số 86B3 - 892.66 hiệu Wave, màu trắng đen - bạc, sau khi tạm giữ và làm rõ, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho Trần Huy K1, là chủ sở hữu theo đúng quy định.
  • - 01 ống thủy tinh uốn cong một đầu thành hình cầu, dài khoảng 12cm: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 477, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh B (trong quá trình giám định mẫu M đã được phân tích hết) cùng với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 vỏ chai nước khoáng không màu, có nắp chai màu vàng, trên nắp chai đục thành 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút giải khát; 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Redmi 9A, màu đen, gắn sim số 0813949197 (của Ý) và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, có gắn sim số 0769999501 (của K1), là những vật chứng của vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan CSĐT Công an huyện đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý.
  • - Đối với xe mô tô (không xác định được biển số), loại xe Wave Trung Quốc của Trần Văn H sử dụng để đi mua ma tuý, sau đó xe bị hư nên H đã bán lại cho người khác nhưng không nhớ địa chỉ nên không thu giữ được.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSHTB ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố các bị cáo Trần Văn H, Trần Thị Như Ý, Trần Huy K1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: các bị cáo Trần Văn H, Trần Thị Như Ý, Trần Huy K1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

  • Phạt Trần Văn H từ 07 năm 06 tháng đến 8 năm tù.
  • Phạt Trần Thị Như Ý từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
  • Phạt Trần Huy K1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 ống thủy tinh uốn cong một đầu thành hình cầu, dài khoảng 12cm: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 477, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh B (trong quá trình giám định mẫu M đã được phân tích hết) cùng với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 vỏ chai nước khoáng không màu, có nắp chai màu vàng, trên nắp chai đục thành 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút giải khát.
  • - Đề nghị tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Redmi 9A, màu đen, gắn sim số 0813949197 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, có gắn sim số 0769999501.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn, hối hận về việc mình đã làm, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn H, Trần Thị Như Ý, Trần Huy K1 khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, biên bản xác định hiện trường, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định:

Trong khoảng thời gian từ ngày 25/4/2024 đến ngày 28/4/2024, tại phòng trọ số A nhà trọ 435A, thuộc khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận do Trần Văn H và Trần Thị Như Ý thuê ở, sống chung như vợ chồng; H, Ý và K1 đã nhiều lần tổ chức sử dụng trái phép chất mua ma tuý. Trong đó, H 03 lần đi mua ma túy, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy và cùng Ý cung cấp địa điểm sử dụng ma túy; K1 02 lần cung cấp ma túy; Ý cung cấp địa điểm sử dụng ma túy, 01 lần giúp K1 đi mua ma túy về và 01 lần cho H sử dụng điện thoại của mình để H liên hệ mua ma túy. H, Ý, K1 đã 05 lần cùng nhau sử dụng ma túy. Số ma túy trong ống thủy tinh do H mua về sử dụng còn lại bị phát hiện và thu giữ có tổng khối lượng qua giám định 0,0273 gam, là Methamphetamine.

Các bị cáo H, Ý và K1 5 lần cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, là “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với 02 người trở lên”, đây là những tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo hoàn toàn nhận thức được ma túy là nguy hại cho bản thân và xã hội, bị nghiêm cấm tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng,... nếu vi phạm sẽ chịu sự trừng phạt của pháp luật nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện, các bị cáo vẫn bất chấp thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây nguy hại cho sức khỏe con người và cộng đồng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác nên cần thiết phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét về vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cả ba bị cáo có sự thống nhất cao về ý chí, đều đóng vai trò tích cực trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, vai trò của bị cáo H tích cực hơn so với hai bị cáo còn lại. Do đó Hội đồng xét xử sẽ có sự cân nhắc khi lượng hình đối với từng bị cáo.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: cần thiết phải lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả do các bị cáo gây ra, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 ống thủy tinh uốn cong một đầu thành hình cầu, dài khoảng 12cm: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 477, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh B (trong quá trình giám định mẫu M đã được phân tích hết) cùng với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 vỏ chai nước khoáng không màu, có nắp chai màu vàng, trên nắp chai đục thành 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút giải khát. Đây là các công cụ dùng vào việc phạm tội, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Redmi 9A, màu đen, gắn sim số 0813949197 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, có gắn sim số 0769999501 là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ.

[8] Về các vấn đề khác:

  • Đối với số ma túy còn lại trong ống thủy tinh bị thu giữ của Trần Văn H có khối lượng qua giám định 0,0273 gam, là Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng là chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, đồng thời H chưa có tiền án, tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc chưa bị kết án về các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật hình sự chưa được xóa vi phạm, xóa án tích mà còn vi phạm nên không đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Văn H là đúng quy định.
  • Đối với ông Lê Văn D là người cho Trần Văn H và Trần Thị Như Ý thuê phòng trọ số 10 của nhà trọ 354A, thuộc khu phố P, thị trấn P, huyện H nhưng ông D không biết và không tạo điều kiện gì cho H, Ý tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Trần Huy K1 nên không đủ căn cứ để xử lý ông Lê Văn D là đồng phạm về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
  • Đối với lời khai của Trần Huy K1, Trần Văn H, Trần Thị Như Ý về người có tên gọi N1 và đối tượng tên Út H5, H6, ở khu vực phường P, thành phố P đã cho, bán ma túy cho K1, H, Ý vào ngày 25, 26, 27 và 28/4/2024 nhưng đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của những người này nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau là đúng quy định.

Các bị cáo Trần Văn H, Trần Thị Như Ý, Trần Huy K1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: B), Trần Thị Như Ý, Trần Huy K1 đều phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Trần Văn H (tên gọi khác: Ba T) 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2024.

Xử phạt: Trần Thị Như Ý 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2024.

Xử phạt: Trần Huy K1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2024.

Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 ống thủy tinh uốn cong một đầu thành hình cầu, dài khoảng 12cm: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 477, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh B (trong quá trình giám định mẫu M đã được phân tích hết) cùng với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 vỏ chai nước khoáng không màu, có nắp chai màu vàng, trên nắp chai đục thành 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút giải khát.
  • - Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Redmi 9A, màu đen, gắn sim số 0813949197 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, có gắn sim số 0769999501.

Tất cả vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/01/2025.

Về án phí:

Các bị cáo Trần Văn H, Trần Thị Như Ý, Trần Huy K1 mỗi người phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện HTB;
  • - Công an huyện HTB;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện HTB;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger