Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-PT

Ngày: 17/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Kiên và ông Hoàng Tuấn Trọng.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thủy Quyên - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2025/HSPT ngày 05/5/2025, đối với bị cáo Dương Văn H và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2025/HSS-T ngày 24/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Hoàng G (Tên giọi khác: Ồ); sinh năm 1989; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Phạm Thị T; có vợ là Nguyễn Thị T1 và 02 con; tiền án; tiền sự: chưa có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  2. Dương Văn T2, sinh năm 1971; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Đình Đ (đã chết) và bà Mai Thị Đ1; có vợ là Nguyễn Thị T3 và 02 con; tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  3. Dương Văn H, sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn X và bà Hoàng Thị Hải K; Vợ, con: chưa có; tiền án: Năm 2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng (Ngày 05/5/2023 chấp hành xong hình phạt); tiền sự: chưa có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an H9. (Có mặt).
  4. An Như D, sinh năm 1988; nơi cư trú: thôn X, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông An Như G1 và bà Sái Thị L; có vợ là Lê Thị H1 và 01 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; nhân thân: Ngày 01/6/2019, bị Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  5. Nguyễn Văn M, sinh năm 1979; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T4 và bà Dương Thị B (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị G2 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  6. Dương Văn H2, sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị T3; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  7. Trịnh Văn A, sinh năm 1968; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn L1 và bà Lê Thị N (đều đã chết); có vợ là Trịnh Thị H3 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  8. Nguyễn Văn M1, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G3 và bà Ngô Thị V; Có vợ là Lê Thị H4 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Năm 2005, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù giam về tội Cướp tài sản; năm 2005 bị Toà án nhân dân Huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Đánh bạc (Đã chấp hành xong). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  9. Dương Đình V1, sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn C và bà Lê Thị D1; Có vợ là Trịnh Thị T5 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  10. Dương Văn T6, sinh năm 1968; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Đình Đ (đã chết) và bà Mai Thị Đ1; Có vợ là Trần Thị Thu L2 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  11. Trịnh Tuấn D2, sinh năm 1969; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn T7 (đã chết) và bà Trần Thị T8; Có vợ là Trần Thị Bích H5 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  12. Dương Văn V2, sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn C và bà Lê Thị D1; Có vợ là Hoàng Thị H6 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại. (Có mặt).
  13. Dương Văn Q, sinh năm 1977; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q1; Có vợ là Trần Thị L3 và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  14. Dương Văn X, sinh năm 1970; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn N1 và bà Nguyễn Thị N2 (đều đã chết); Có vợ là Hoàng Thị Hải K và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  15. Trịnh Văn T9, sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn A và bà Trịnh Thị H3; Có vợ là Dương Thị L4 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
  16. Trần Văn L5, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L6 và bà Lê Thị T10 (đã chết); Có vợ là Trịnh Thị N3 (tại phiên tòa bị cáo khai đã ly hôn vợ) và có 02 con;t án, tiền sự: Chưa có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

Trong vụ án còn có 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công an xã L, huyện V tiếp nhận đơn tố cáo của quần chúng nhân dân thôn M, xã L về việc trong khoảng thời gian từ 09 giờ đến 16 giờ ngày 10/02/2024 (tức mùng 1 Tết Nguyên Đán Giáp Thìn năm 2024) tại khu vực sân bóng chuyền thuộc thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên là điểm sinh hoạt văn hóa của cả thôn tập trung đông người nên một số đối tượng đã lợi dụng việc vui xuân đón Tết rủ nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Tại sân bóng chuyền ngày 10/02/2024, có sẵn 01 chiếc bát sứ, 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, bên trên mặt đĩa có 04 quân vị hình tròn, một mặt màu trắng, một mặt màu vàng được cắt từ vỏ bao thuốc lá vinataba để ở đó (không biết do ai để từ bao giờ). Thấy vậy Nguyễn Hoàng G, Dương Văn T2, Trịnh Văn A, Nguyễn Văn M1, Dương Văn H2, Dương Đình V1, Dương Văn Q, Trịnh Văn T9, Dương Văn V2, Trịnh Tuấn D2, Nguyễn Văn M, Dương Văn X, Dương Văn T6, Dương Văn H, Trần Văn L5 cùng nhau đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền. Trước khi đánh bạc G có số tiền 1.000.000 đồng, T2 có số tiền 1.000.000 đồng, M1 có số tiền 1.300.000đ, V1 có số tiền 1.000.000 đồng, V2 có số tiền 400.000 đồng, A có số tiền 4.500.000 đồng, H2 có số tiền 300.000 đồng, Q có số tiền 200.000 đồng, T9 có số tiền 200.000 đồng, M có số tiền 200.000 đồng, T6 có số tiền 700.000 đồng, X có số tiền 500.000 đồng, tất cả xác định sử dụng toàn bộ số tiền mang theo vào mục đích đánh bạc. D2 có số tiền 700.000 đồng nhưng xác định chỉ sử dụng 400.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Ban đầu, Dương Văn H là người xóc cái cho cả nhóm đánh bạc, sau đó Nguyễn Hoàng G xóc cái thay H.

Cả nhóm tham gia đánh bạc tại vị trí cuối sân bóng chuyền tính từ đường bê tông liên thôn vào, tất cả người đứng, người ngồi quây thành hình vòng tròn. Cách thức đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa như sau: Mỗi ván, người cầm cái đặt chiếc đĩa sứ xuống nền sân, trong lòng đĩa có 04 quân vị hình tròn cắt từ vỏ bao thuốc lá Vinataba một mặt màu trắng, một mặt màu vàng rồi úp chiếc bát con lên lòng đĩa, người cầm cái dùng hai tay cầm bát đĩa xóc lên xóc xuống mục đích cho 04 quân vị nấy lên trong bát. Xong người cầm cái đặt bát đĩa xuống trước mặt và người chơi bắt đầu đặt tiền theo cửa chẵn, cửa lẻ. Cửa chẵn là phía bên trong người xóc cái, cửa lẻ là phía bên ngoài người xóc cái. Về lẻ nghĩa là ba quân vị màu trắng, một quân vị màu vàng hoặc ba quân vị màu vàng một quân vị màu trắng. Về chẵn nghĩa là hai quân vị màu trắng, hai quân vị màu vàng hoặc bốn quân vị cùng một màu. Sau khi người chơi đặt tiền xong thì người cầm cái mở bát ra để xác định thắng thua. Khi người cầm cái mở bát ra, nếu là chẵn thì những người đặt tiền cửa chẵn thắng, người cầm cái sẽ lấy số tiền của những người bên cửa lẻ trả cho người cửa chẵn, người đặt tiền cửa chẵn được thu về số tiền bằng số tiền mình đã đặt, còn người đặt tiền cửa lẻ bị thua số tiền mình đã đặt. Còn nếu mở bát ra là lẻ thì người đặt tiền cửa lẻ thắng, người đặt tiền cửa chẵn bị thua và bị mất số tiền đã đặt. Khi cả nhóm đang đánh bạc đến 11 giờ 30 phút cùng ngày thì An Như D ở thôn X, xã L, huyện V đến tham gia đánh bạc. D mang theo số tiền 360.000 đồng xác định sử dụng hết vào mục đích đánh bạc, D đặt 01 ván và thua số tiền 100.000 đồng thì không đánh bạc nữa, thấy vậy G đưa bát đĩa cho D xóc cái thì D đồng ý xóc cái hộ để cả nhóm đánh bạc. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì G ra về, khi về G cầm theo số tiền 1.000.000 đồng (không thắng không thua). D đang sóc cái thì Dương Văn T2 xóc cái thay D, D không đánh bạc nữa mà cầm theo số tiền 260.000 đồng đi về. T2 tiếp tục xóc cái cho cả nhóm đánh bạc đến khoảng 15 giờ cùng ngày và bị thua số tiền 200.000 đồng, khi T2 đang xóc cái thì M bảo để M xóc cái hộ cả nhóm thì mọi người đồng ý. M tiếp tục xóc cái cho cả nhóm đánh bạc đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì giải tán đám bạc ra về. Buổi tối người dân ở thôn M ra chơi bóng chuyền, thấy bát đĩa vứt ở cuối sân đã bị vỡ (không xác định được ai đập vỡ) nên đã nhặt bát đĩa, quân vị bỏ đi. Các bị cáo đều khai nhận khi tham giá đánh bạc thua hết tiền, chỉ có Nguyễn Văn M1 thắng số tiền 800.000 đồng, Nguyễn Hoàng G hòa không thua, D cầm theo số tiền 260.000 đồng ra về.

Đối với Dương Văn H: H trình bày có mặt tại vị trí mọi người đánh bạc từ 08 giờ đến khoảng 09 giờ ngày 10/02/2024 nhưng H không tham gia đánh bạc, lúc đó H thấy Trần Văn L5, Dương Văn T2, Dương Văn H2, Nguyễn Văn M, Dương Đình V1, Nguyễn Hoàng G đang đánh bạc. H không thừa nhận hành vi đánh bạc của bản thân, tuy nhiên các bị cáo Trịnh Văn T9, Nguyễn Văn M, Dương Văn T2, Nguyễn Hoàng G, Trịnh Văn A, Nguyễn Văn M1, Dương Đình V1, Dương Văn V2 đều khẳng định khi các bị cáo đánh bạc thì H có tham gia đánh bạc cùng cả nhóm, có thời điểm chính H là người xóc cái cho cả nhóm đánh bạc. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho H đối chất với các bị cáo T9, M, T2, G, A, M1, V1, V2 nhưng các bên vẫn giữ nguyên quan điểm. Hiện nay H chưa nộp lại số tiền sử dụng để đánh bạc.

Đối với Trần Văn L5: Do nhà L5 ở gần sân bóng chuyền, thấy tại đó tập trung đông người nên L5 đi ra đó chơi, L5 đứng trên đường bê tông liên thôn, cách vị trí đánh bạc khoảng 50 mét, L5 khẳng định bản thân không tham gia đánh bạc. Tuy nhiên căn cứ lời khai của các bị cáo Dương Văn H, Trịnh Văn T9, Dương Văn T2, Trịnh Văn A, Nguyễn Văn M1, Dương Văn V2 và lời khai của những người liên quan là các anh Dương Văn K1, Dương Đức M2, Nguyễn Văn T11 đều khẳng định L5 có tham gia đánh bạc. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho L5 đối chất với các bị cáo T9, T2, A, M1 và V2 nhưng các bên vẫn giữ nguyên quan điểm.

Ngoài ra trong quá trình điều tra, các bị cáo còn trình bày, ngoài 16 bị cáo đã bị khởi tố về tội đánh bạc, ngày 10/02/2024 tham gia đánh bạc cùng cả nhóm còn có Nguyễn Văn T11, Dương Đức M2, Dương Văn K1, Trần Văn T12, Dương Văn T13, Nguyễn Văn S1, Phạm Ngọc H7, Lê Văn K2, Trịnh Văn Q2, Trịnh Văn T14, Lê Trung S2, Dương Đình M3, Trịnh Văn S3, Nguyễn Văn H8, Trịnh Văn V3, Nguyễn Văn C1 ở xã L, huyện V. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập nhưng mội số đối tượng hiện không có mặt tại địa phương nên chưa làm rõ được. Ngày 13/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 1970 để tiếp tục xác minh, điều tra về hành vi đánh bạc của những người liên quan trên để tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với các vật chứng là 01 bát sứ màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng, 04 quân vị hình tròn, một mặt màu vàng, mặt còn lại màu trắng được cắt từ vỏ bao thuốc lá Vinataba. Cơ quan CSĐT- Công an huyện V đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng đến nay không thu giữ được.

Các bị cáo khai nhận khi tham gia đánh bạc có mang theo tổng số tiền 12.060.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình điều tra, các bị cáo và người liên quan tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra là 7.800.000 đồng, trong đó: Trịnh Văn T9 giao nộp số tiền 200.000 đồng, Dương Đức M2 giao nộp số tiền 1.000.000đ, Dương Văn T6 giao nộp số tiền 300.000 đồng, Dương Văn Q giao nộp số tiền 200.000 đồng, Dương Văn T2 giao nộp số tiền 800.000 đồng, Nguyễn Hoàng G giao nộp số tiền 1.000.000 đồng, Nguyễn Văn M1 giao nộp số tiền 2.100.000 đồng, Dương Văn K1 giao nộp số tiền 200.000 đồng, Trịnh Tuấn D2 giao nộp số tiền 700.000 đồng, Nguyễn Văn T11 giao nộp số tiền 1.300.000 đồng. Đối với số tiền 7.800.000 đồng, cơ quan điều tra đã nộp vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện V tại Kho bạc Nhà nước V4 để chờ xử lý sau.

Các bị cáo Dương Văn T2, Trịnh Văn A, Nguyễn Hoàng G, Nguyễn Văn M1, Dương Văn H2, Dương Đình V1, Dương Văn Q, Trịnh Văn T9, Dương Văn V2, Trịnh Tuấn D2, Nguyễn Văn M, Dương Văn X, Dương Văn T6, An Như D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; riêng bị cáo Dương Văn H và Trần Văn L5 không thừa nhận hành vi phạm tội.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 24/3/2025, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm đã quyết định:

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Hoàng G, Dương Văn H, An Như D, Dương Văn T2, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn M, Trần Văn L5, Trịnh Văn A, Dương Văn H2, Dương Đình V1, Dương Văn Q, Dương Văn V2, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn X, Dương Văn T6 và Trịnh Văn T9 đều phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Văn H.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn M1.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn L5.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng G, Dương Văn T2, An Như D, Nguyễn Văn M, Dương Văn H2, Trịnh Văn A, Dương Đình V1, Dương Văn T6, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn V2, Dương Văn X, Dương Văn Q, Trịnh Văn T9 (riêng bị cáo Q, X áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự).

Xử phạt bị cáo Dương Văn H 01 năm 03 tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 08 tháng 11 năm 2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M1 từ 01 năm tù, thời gian tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng G, Dương Văn T2, An Như D, Nguyễn Văn M, Trần Văn L5 mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Dương Văn H2, Trịnh Văn A, Dương Đình V1, Dương Văn T6, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn V2, Dương Văn X, Dương Văn Q, Trịnh Văn T9 mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Trong các ngày 03 và 04/4/2025, các bị cáo Nguyễn Hoàng G, An Như D, Dương Văn T2, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn M, Trịnh Văn A, Dương Văn H2, Dương Đình V1, Dương Văn Q, Dương Văn V2, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn X, Dương Văn T6 và Trịnh Văn T9 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ngày 04/4/2025, bị cáo Trần Văn L5 kháng cáo kêu oan.

Ngày 08/4/2025, bị cáo Dương Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Hoàng G, An Như D, Dương Văn T2, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn M, Trịnh Văn A, Dương Văn H2, Dương Đình V1, Dương Văn Q, Dương Văn V2, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn X, Dương Văn T6 và Trịnh Văn T9 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo V2, D2, A, T9, M1, T2, H đều xác định bị cáo Trần Văn L5 có tham gia đánh bạc vào ngày 10/2/2024, có đặt tiền vào chiếu bạc nhưng do đông người nên không biết rõ số tiền bị cáo Trần Văn L5 đã sử dụng vào việc đánh bạc, không biết bị cáo L5 thắng hay thua. Giữa các bị cáo và bị cáo L5 không có mâu thuẫn gì. Bị cáo D2 còn xác định, bị cáo L5 đứng ngay cạnh bị cáo D2; bị cáo L5 còn đổi tiền với bị cáo G. Bị cáo T2 xác định khi bị cáo xóc cái thì bị cáo L5 có tham gia đặt tiền, nhưng do đông người nên không nhớ L5 đã đặt bao nhiêu. Bị cáo V2 xác định thời gian bị cáo ra sân bóng và tham gia chơi đánh bạc là khoảng 10g30; bị cáo L5 có chơi đánh bạc và đứng gần bị cáo. Bị cáo T9 khai lúc bị cáo ra sân bóng là khoảng hơn 11 giờ, thấy mọi người đang chơi đánh bạc, bị cáo T2 đang xóc cái cho mọi người chơi gồm G, L5, V2, V1, H2, H.

Các bị cáo T2, V1, V2, M1, M, G, T9 đều khai nhận bị cáo Dương Văn H có tham gia đánh bạc, trực tiếp là người xóc cái, sau đó chuyển cho bị cáo G xóc cái. Các bị cáo D, T2, M cũng tham gia xóc cái.

Bị cáo Dương Văn H xác định do không phân biệt được giữa kháng cáo kêu oan và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo đã viết đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo thành kêu oan vì cho rằng bản thân không tham gia đánh bạc. Nhưng sau đó, bị cáo lại xác định không bị oan, bị cáo có tham gia đánh bạc nhưng không xóc cái mà chỉ đặt tiền chơi một ván với số tiền 100.000 đồng và bị thua. Bị cáo xin giảm nhẹ một phần hình phạt.

Bị cáo Trần Văn L5 giữ nguyên kháng cáo và xác định không tham gia đánh bạc với các bị cáo khác vào ngày 10/02/2024, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm tuyên bị cáo vô tội. Bị cáo L5 xác định bị cáo có mặt tại địa điểm đánh bạc sau khoảng 10 giờ sáng ngày 10/02/2024 nhưng không tham gia đánh bạc; trước đó bị cáo vẫn đang chúc tết tại nhà bố mẹ đẻ ở gần sân bóng chuyền của thôn nên có chứng cứ ngoại phạm. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ dựa trên một số lời khai không rõ ràng của các bị cáo khác để quy kết bị cáo phạm tội; chưa làm rõ được số tiền bị cáo tham gia đánh bạc là bao nhiêu, ngồi đánh bạc ở vị trí nào, mặc trang phục gì. Bị cáo xác định, do cách đây khoảng 5 năm, bị cáo thường hay cờ bạc, rượu chè nên các bị cáo khác trong vụ án và người dân thôn M, xã L nói chung có ấn tượng không tốt đối với bị cáo. Hiện nay, bị cáo đã thay đổi, tu chí làm ăn, công việc kinh doanh quán B1 - a đang thuận lợi thì những người này có ý tư thù cá nhân hoặc cạnh tranh trong công việc, cố tình khai khống để hạ uy tín, danh dự của bị cáo. Đối với lời khai của bị cáo H cho rằng bị cáo có tham gia đánh bạc cũng không có giá trị chứng minh, bởi lời khai có nhiều mâu thuẫn. Giữa bị cáo và bị cáo H có mâu thuẫn trước đó trong việc đá bóng ở sân của thôn nên bị cáo H muốn trả thù bị cáo. Mặt khác, chính bị cáo H cũng không thừa nhận hành vi đánh bạc nên không thể biết được bị cáo có tham gia đánh bạc hôm đó hay không.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Hoàng G, Dương Văn H, An Như D, Dương Văn T2, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn M, Trần Văn L5, Trịnh Văn A, Dương Văn H2, Dương Đình V1, Dương Văn Q, Dương Văn V2, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn X, Dương Văn T6 và Trịnh Văn T9 về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Hoàng G, An Như D, Dương Văn T2, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn M, Trịnh Văn A, Dương Văn H2, Dương Đình V1, Dương Văn Q, Dương Văn V2, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn X, Dương Văn T6 và Trịnh Văn T9 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và các đồng phạm khác; riêng bị cáo L5 không thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; bị cáo H chưa thực sự thành khẩn.

Đối với bị cáo H có tiền án về tội Gây rối trật tự công cộng, phạm tội với vai trò đồng phạm tích cực nhất (là người xóc cái), chưa thực sự thành khẩn về hành vi phạm tội của mình; bị cáo D có nhân thân xấu, trực tiếp tham gia xóc cái; bị cáo M1 có nhân thân xấu; bị cáo L5 không thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo G, T2 mặc dù có nhân thân tốt nhưng phạm tội với vai trò chính (trực tiếp tham gia xóc cái) nên cần cách ly các bị cáo này ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo.

Đối với bị cáo M mặc dù có tham gia với vai trò xóc cái, tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, vợ bỏ đi, con trai lớn vừa chấp hành án về tội Gây rối trật tự công cộng, con trai nhỏ sinh năm 2011 bị tự kỷ không có ai chăm sóc nên cần chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Đối với các bị cáo A, H2, V1, Q, V2, D2, X, T6, T9 đều có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và các đồng phạm khác; phạm tội với vai trò đồng phạm thứ yếu hơn so với các bị cáo G, T2 nên chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm và cho các bị cáo được hưởng án treo, cũng đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Từ những nhận định trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Dương Văn H, An Như D, Trần Văn L5, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Hoàng G, Dương Văn H.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Trịnh Tuấn D2, Dương Văn X, Dương Văn T6, Trịnh Văn T9, Nguyễn Văn M, Dương Văn Q, Dương Văn H2, Trịnh Văn A, Dương Đình V1, Dương Văn V2, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng G, Dương Văn H, An Như D, Dương Văn T2, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn M, Trần Văn L5, Trịnh Văn A, Dương Văn H2, Dương Đình V1, Dương Văn Q, Dương Văn V2, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn X, Dương Văn T6 và Trịnh Văn T9 được làm trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về tội danh: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Trong khoảng thời gian từ 09 giờ đến 16 giờ ngày 10/02/2024 (tức mùng 1 Tết Nguyên Đán Giáp Thìn năm 2024), tại sân bóng chuyền thuộc thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, xảy ra sự việc một số đối tượng đã lợi dụng việc vui xuân đón Tết tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Hoàng G, An Như D, Dương Văn T2, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn M, Trịnh Văn A, Dương Văn H2, Dương Đình V1, Dương Văn Q, Dương Văn V2, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn X, Dương Văn T6 và Trịnh Văn T9 khai nhận có tham gia đánh bạc vào khoảng thời gian nêu trên. Số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cụ thể như sau: G sử dụng số tiền 1.000.000 đồng, T2 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng, M1 sử dụng số tiền 1.300.000đ, V1 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng, V2 sử dụng số tiền 400.000 đồng, A sử dụng tiền 4.500.000 đồng, H2 sử dụng số tiền 300.000 đồng, Q sử dụng số tiền 200.000 đồng, T9 sử dụng số tiền 200.000 đồng, M sử dụng số tiền 200.000 đồng, T6 sử dụng số tiền 700.000 đồng, X sử dụng số tiền 500.000 đồng, D2 có số tiền 700.000 đồng nhưng xác định chỉ sử dụng 400.000 đồng vào mục đích đánh bạc, D sử dụng số tiền 360.000 đồng.

Đối với Dương Văn H: Bị cáo không thừa nhận hành vi xóc cái mà chỉ thừa nhận có tham gia đặt tiền một ván với số tiền 100.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai các bị cáo Trịnh Văn T9, Nguyễn Văn M, Dương Văn T2, Nguyễn Hoàng G, Trịnh Văn A, Nguyễn Văn M1, Dương Đình V1, Dương Văn V2, đều khẳng định khi các bị cáo đánh bạc thì H có tham gia đánh bạc cùng cả nhóm, có thời điểm chính H là người xóc cái cho cả nhóm đánh bạc, nên đủ căn cứ xác định H có tham gia đánh bạc và có trực tiếp xóc cái cho cả nhóm đánh bạc vào ngày 10/02/2024. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định không bị oan, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với Trần Văn L5: Bị cáo khẳng định không tham gia đánh bạc ngày 10/02/2024. Tuy nhiên căn cứ vào biên bản đối chất, lời khai của các bị cáo Dương Văn H, Trịnh Văn T9, Dương Văn T2, Trịnh Văn A, Nguyễn Văn M1, Dương Văn V2 và lời khai của những người liên quan là các anh Dương Văn K1, Dương Đức M2, Nguyễn Văn T11, đều khẳng định L5 có tham gia đánh bạc ngày 10/02/2024. Cụ thể, tại bản tường trình và lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo Dương Văn H (BL 812 – 819), H khai L5 nói với mọi người là mang bát với cắt quân chơi xóc đĩa; L5 rủ mọi người chơi xóc đĩa; L5 đi vào nhà T2 cầm một bát con bằng sứ màu trắng đi ra sân bóng chuyền; L5 mang bát ra thì tất cả mọi người cùng ngồi quây tròn lại để T2 xóc cái cho mọi người tham gia đánh bạc; L5 có vào xóc cái khoảng 10 phút thì G vào xóc cái thay cho L5. Lời khai bị cáo Dương Đình V1 (BL 637, 638) xác định L5 có tham gia đánh bạc. Lời khai của bị cáo Trịnh Văn T9 (BL 723 – 739) khai khi T9 vào tham gia đánh bạc thì có các bị cáo T2, G, L5, V2, V1, H2, H....cùng tham gia đánh bạc. Lời khai của bị cáo Dương Văn T2 (BL 741 – 744) xác định L5 có tham gia đánh bạc, có tham gia xóc cái cùng với G, H, Mỹ. Lời khai của bị cáo Trịnh Văn A (BL 695 – 708) xác định khi bị cáo T2 xóc cái thì có Trần Văn L5 tham gia chơi cùng với những người khác. Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn M1 (BL 673- 678) xác định khi bị cáo H xóc cái thì L5 có tham gia đánh bạc cùng với những người khác. Lời khai của bị cáo Dương Văn V2 (BL 758 – 769) xác định trong lúc bị cáo đánh bạc thì có bị cáo Trần Văn L5 cùng tham gia với những người khác. Lời khai của anh Dương Văn K1 (BL 540 – 550), lời khai của anh Dương Đức M2 (BL 551 -564), lời khai của anh Nguyễn Văn T11 (BL 565 – 581) đều xác định bị cáo L5 có tham gia đánh bạc. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo Trần Văn L5 có tham gia đánh bạc vào ngày 10/02/2024 là có căn cứ, đúng pháp luật và không oan sai. HĐXX phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo L5.

Căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ 09 giờ đến 16 giờ ngày 10/02/2024 (tức mùng 1 Tết Nguyên Đán Giáp Thìn năm 2024) tại sân bóng chuyền thuộc thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Hoàng G (tức: Ồ), Dương Văn T2, Trịnh Văn A, Nguyễn Văn M1, Dương Văn H2, Dương Đình V1, Dương Văn Q, Trịnh Văn T9, Dương Văn V2, Trịnh Tuấn D2, Nguyễn Văn M, Dương Văn X, Dương Văn T6, An Như D, Dương Văn H và Trần Văn L5 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 12.060.000 đồng. Quá trình đánh bạc, G, T2, H, M và D thay nhau xóc cái cho cả nhóm đánh bạc. Kết thúc việc đánh bạc các bị cáo bỏ bát đĩa, quân vị tại sân bóng chuyền nhưng không biết ai là người đập vỡ nên người dân đã nhặt rồi bỏ đi nên không thu giữ được. Sau đó sự việc bị phát hiện.

Bởi hành vi nêu trên, các bị cáo Nguyễn Hoàng G, Dương Văn T2, Trịnh Văn A, Nguyễn Văn M1, Dương Văn H2, Dương Đình V1, Dương Văn Q, Trịnh Văn T9, Dương Văn V2, Trịnh Tuấn D2, Nguyễn Văn M, Dương Văn X, Dương Văn T6, An Như D, Dương Văn H và Trần Văn L5 đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội Đánh bạc khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

[3]. Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để cải tạo, giáo dục các bị cáo và làm bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng G, Dương Văn T2, Trịnh Văn A, Nguyễn Văn M1, Dương Văn H2, Trịnh Văn T9, Dương Văn V2, Trịnh Tuấn D2, Nguyễn Văn M, Dương Văn T6, An Như D, Dương Văn H: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện; xác định đúng vị trí, vai trò; áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xem xét nhân thân của các bị cáo; mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với các bị cáo là có căn cứ.

Xét thấy: bị cáo Dương Văn H phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, phải chịu 01 tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo tham gia đánh bạc và có thời điểm là người xóc cái nhưng quá trình điều tra và xét xử sơ thẩm, phúc thẩm không thành khẩn khai báo; bị cáo Nguyễn Văn M1 có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về các tội Cướp tài sản, Trộm cắp tài sản, Đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Các bị cáo Nguyễn Hoàng G, An Như D, Dương Văn T2 đều tham gia đánh bạc tích cực; bị cáo G, D, T2 thay nhau xóc cái cho các bị cáo đánh bạc, giữ vai trò chính trong vụ án. Do đó, HĐXX không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo này, cần giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm, buộc các bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn M, mặc dù có tham gia với vai trò xóc cái, tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, vợ bỏ đi, con trai vừa chấp hành án xong, con trai sinh năm 2011 bị tự kỷ không có ai chăm sóc nên cần chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Đối với các bị cáo Dương Đình V1, Dương Văn Q: Bị cáo Dương Văn Q có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang, có mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Bị cáo Dương Đình V1 có bà nội là bà mẹ Việt Nam anh hùng, có chú ruột là liệt sĩ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ áp dụng thêm để đảm bảo quyền lợi cho các bị cáo.

Xét thấy, các bị cáo A, H2, V1, Q, V2, D2, X, T6, T9 đều có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và các đồng phạm khác; phạm tội với vai trò đồng phạm thứ yếu hơn so với các bị cáo G, T2 nên chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm và cho các bị cáo được hưởng án treo, cũng đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[3]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa có căn cứ, được chấp nhận.

[4]. Về biện pháp tư pháp:

Trong vụ án này, bị cáo An Như D xác định sử dụng hết số tiền 360.000 đồng mang theo vào mục đích đánh bạc. Khi đánh bạc, D đặt 01 ván và thua số tiền 100.000 đồng thì không đánh bạc nữa và cầm theo số tiền 260.000 đồng đi về. Quá trình điều tra, D chưa nộp lại số tiền 260.000 đồng trên. Bản án sơ thẩm không tuyên truy thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 260.000 đồng D sử dụng vào mục đích đánh bạc là còn thiếu sót. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định truy thu của bị cáo An Như D số tiền 260.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước theo đúng quy định tại Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo kháng cáo được chấp nhận không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Dương Văn H, An Như D, Trần Văn L5, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Hoàng G, Dương Văn T2.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Trịnh Tuấn D2, Dương Văn X, Dương Văn T6, Trịnh Văn T9, Nguyễn Văn M, Dương Văn Q, Dương Văn H2, Trịnh Văn A, Dương Đình V1, Dương Văn V2, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Văn H.

Xử phạt bị cáo Dương Văn H 01 năm 03 tháng tù về tội Đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 11 năm 2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn M1.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M1 01 năm tù về tội Đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn L5.

Xử phạt Trần Văn L5 09 tháng tù về tội Đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng G, Dương Văn T2, An Như D

Xử phạt các bị cáo Nguyễn Hoàng G, Dương Văn T2, An Như D, mỗi bị cáo 09 tháng tù về tội Đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn M, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Dương Văn H2, Trịnh Văn A, Dương Văn T6, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn V2, Dương Văn X, Trịnh Văn T9, Dương Đình V1, Dương Văn Q

Xử phạt các bị cáo Dương Văn H2, Trịnh Văn A, Dương Văn T6, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn V2, Dương Văn X, Trịnh Văn T9, Dương Đình V1, Dương Văn Q, mỗi bị cáo 06 tháng tù về tội Đánh bạc, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao các bị cáo Dương Văn H2, Trịnh Văn A, Dương Văn T6, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn V2, Dương Văn X, Trịnh Văn T9, Dương Đình V1, Dương Văn Q cho Công an xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên giám sát; Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu của bị cáo An Như D số tiền 260.000 đồng, sung vào ngân sách nhà nước.

3. Về án phí: Các bị cáo Dương Văn H, An Như D, Trần Văn L5, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Hoàng G, Dương Văn T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các bị cáo Dương Văn H2, Trịnh Văn A, Dương Văn T6, Trịnh Tuấn D2, Dương Văn V2, Dương Văn X, Trịnh Văn T9, Dương Đình V1, Dương Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNVCS-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND huyện Văn Lâm;
  • - VKSND huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục THSDS huyện Văn Lâm;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-PT ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 32/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 321
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger