TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30-5-2025
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hoàng Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Xuân.
- Bà Nguyễn Thị Bích Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy là Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Cẩm T, sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số nhà B, ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 03/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Cẩm T trình bày như sau:
Bà và ông Nguyễn Tuấn K tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Long An ngày 03/12/2020. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Vì không tìm hiểu nhau kỹ nên khi chung sống không báo lâu thì vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì nhận thấy vợ chồng thật sự đã không còn tình cảm với nhau, hôn nhân không thể kéo dài được nữa nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K.
Về con chung: Bà và ông K có 01 con chung tên Nguyễn Phương Nhã Đ, sinh ngày 22/5/2022. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Bà xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà cam kết vợ chồng không có nợ chung.
Bị đơn ông Nguyễn Tuấn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay, không trình bày ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu phản tố và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.
Vụ án đã được tiến hành công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Tuấn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Nguyên đơn bà Phạm Thị Cẩm T trình bày tại phiên tòa như sau: Hiện tại vợ chồng đã không còn chung sống, bà T và cháu Nhã Đ đã trở về nhà mẹ ruột của bà sinh sống. Từ khi bà sinh con cho đến nay, ông K không phụ giúp nuôi con, không đến thăm nom con và không còn quan tâm đến vợ con nữa. Vợ chồng thật sự đã không còn tình cảm với nhau, ông K không có thiện chí hòa giải để đoàn tụ với vợ con nên bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bà được ly hôn với ông K. Về con chung, bà yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét cháu N Đan còn nhỏ, là con gái và từ khi sinh ra cho đến nay đều do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên giao cho bà tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhã Đ. Về mức cấp dưỡng, vì con chung còn nhỏ tuổi, chi phí cần thiết để nuôi dưỡng con chung là rất nhiều nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng theo yêu cầu của bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phạm Thị Cẩm T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Tuấn K1 và tranh chấp về quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung; bị đơn hiện đang cư trú tại xã N, huyện T, tỉnh Long An theo xác nhận của Công an xã N, huyện T, tỉnh Long An. Vì vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Tuấn K đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn trong vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Về giao nộp và đánh giá chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn thể hiện yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[4] Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Cẩm T và ông Nguyễn Tuấn K, thấy rằng: Bà T và ông K tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91/2020, đăng ký ngày 03/12/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Long An cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Theo bà T1 trình bày mâu thuẫn vợ chồng đã không thể hàn gắn được nữa, vợ chồng đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm đến nhau nên yêu cầu được ly hôn với ông K. Bị đơn từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng đều vắng mặt và không thể hiện ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn. Như vậy chứng tỏ ông K cũng không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà T. Vì vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông K và bà T là có phát sinh trên thực tế như lời trình bày của bà T. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, vợ chồng hiện đã không còn chung sống với nhau, ông K cũng không quan tâm thăm nom vợ con nên quan hệ hôn nhân của bà T và ông K đã không thể đạt được mục đích của hôn nhân như quy định nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Phạm Thị Cẩm T đối với ông Trần Tuấn K1.
[5] Về con chung: Bà T và ông K1 có 01 con chung tên Nguyễn Phương Nhã Đ, sinh ngày 02/5/2022. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhã Đ. Xét thấy, cháu Nhã Đ hiện đang sống với bà T, do bà T trực tiếp chăm sóc từ khi sinh ra cho đến nay và cháu vẫn phát triển bình thường; ông K1 cũng không có yêu cầu tranh chấp về quyền nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu N Đan 37 tháng tuổi và là con gái nên cần được mẹ chăm sóc thì phù hợp vói tâm sinh lý của bé gái. Vì vậy cần tiếp tục giao cho bà Phạm Thị Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Phương Nhã Đ, sinh ngày 02/5/2022 để không làm thay đổi môi trường sống làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của con chung. Ông K1 có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[6] Về mức cấp dưỡng nuôi con: Vì ông Nguyễn Tuấn K không trực tiếp nuôi con nên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Theo quy định tại Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì mức cấp dưỡng căn cứ vào khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Xét mức cấp dưỡng theo yêu cầu của bà T là 3.000.000 đồng/tháng, thấy rằng mức cấp dưỡng này đáp ứng được chi phí cần thiết cho những nhu cầu thiết yếu để nuôi dưỡng con chỉ hơn 36 tháng tuổi và mức cấp dưỡng cũng không vượt quá mức thu nhập trung bình tại địa phương. Đồng thời, ông K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, đã biết về mức cấp dưỡng mà bà T yêu cầu nhưng ông K cũng không có ý kiến phản đối. Như vậy, có cơ sở chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Tuấn K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Phương Nhã Đ sinh ngày 02/5/2022, mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 06 năm 2025 đến khi có một trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con hoặc cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[7] Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị Cẩm T trình bày vợ chồng không có tài sản chung và cam kết vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về chia tài sản chung và nợ chung. Ông Nguyễn Tuấn K không có ý kiến phản đối với lời trình bày này của bà T và cũng không yêu cầu giải quyết chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.
[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[8.1] Buộc bà Phạm Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011553 ngày 14/3/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; bà T đã nộp xong án phí sơ thẩm.
[8.2] Buộc ông Nguyễn Tuấn K phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nộp vào ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 96, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 207, Điều 208, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Cẩm T về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” đối với ông Trần Tuấn K1.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Cẩm T được ly hôn với ông Trần Tuấn K1.
Về nuôi con chung: Bà Phạm Thị Cẩm T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Phương Nhã Đ, sinh ngày 02/5/2022. Ông Trần Tuấn K1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 6 năm 2025 đến khi có một trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định của pháp luật.
Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí:
Buộc bà Phạm Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011553 ngày 14/3/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; bà T đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Buộc ông Nguyễn Tuấn K phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nộp vào ngân sách nhà nước.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Án xử sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Thị Hoàng Dung |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
