Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN NAM
TỈNH BÌNH THUÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30-5-2025.
(V/v: Ly hôn, nuôi con chung).

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM - TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Hoàng Văn Tâm
  • - Ông Thông Minh Tấn

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Viết Diệu T – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 12/3/2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/HNGÐST-QĐ ngày 05/5/2025 giữa:

  • * Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Đ – sinh năm 1990.
  • Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện H, Bình Thuận.
  • * Bị đơn: Ông Vũ Văn H – sinh năm 1985.
  • Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện H, Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Hoàng Thị Đ trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H tự nguyện tìm hiểu, chung sống vào năm 2009 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T3, huyện H, tỉnh Bình Thuận vào ngày 27/4/2009.

Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và không có tiếng nói chung, ông H1 có hành vi bạo lực gia đình nên vợ chồng không còn yêu thương và tôn trọng nhau. Từ tháng 6/2024 ông bà mạnh ai nấy sống cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H11

  • - Về con chung: bà khai có 3 con chung tên Vũ Thị Ánh T (nữ), sinh ngày 19/7/2010; Vũ Thị Thanh T1(nữ), sinh ngày 04/5/2012 và Vũ Hoàng N T3(nam), sinh ngày 19/8/2018. Tại đơn khởi kiện ngày 25/02/2025, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung, bà yêu cầu ông H2 dưỡng tiền nuôi con chung mỗi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Tuy nhiên tại bản tự khai ngày 14/3/2025 bà Đ1 đổi yêu cầu cụ thể sau khi hỏi ý kiến các con thì sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Thị T2 T2bà đồng ý giao hai con chung Vũ Thị Á T1và Vũ Hoàng N T3cho ông H3 tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai.
  • - Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà Đ trình bày: vẫn giữ ý kiến đã trình bày, bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng nhau và không ai quan tâm đến ai. Nay bà Đ yêu cầu yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H11 Về con chung bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Thị T2 T2bà đồng ý giao hai con chung Vũ Thị Á T1và Vũ Hoàng N T3cho ông H3 tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai; Về tài sản chung, nợ chung: vẫn giữ ý kiến đã trình bày, không thay đổi, bổ sung gì thêm.

* * Tại phiên tòa bị đơn ông Vũ Văn H4 mặt lần thứ hai không có lý do; Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H5 báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông H6 chối nhận và vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

  • - Về tố tụng: từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Tại phiên tòa hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

  • - Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát thấy rằng tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã thể hiện hôn nhân của bà Hoàng Thị Đ và ông Vũ Văn H là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T3, huyện H, tỉnh Bình Thuậnvào năm 2009. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do cách sống không hợp nhau, mâu thuẫn về quan điểm sống dẫn tới không tin tưởng nhau nên xảy ra cãi vả nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, ông bà đã tự sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2024, không ai quan tâm đến ai; Tại phiên tòa ông H4 mặt, ông H7 từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án như vậy chứng tỏ ông H8 có thiện chí hòa giải, tình cảm vợ chồng của ông bà không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó: căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Đ được ly hôn ông H11

Về con chung: Ông bà có 3 con chung tên Vũ Thị Ánh T (nữ), sinh ngày 19/7/2010; Vũ Thị Thanh T1(nữ), sinh ngày 04/5/2012 và Vũ Hoàng N T3(nam), sinh ngày 19/8/2018. Tại phiên tòa bà Đ2 nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Thị T2 T2bà đồng ý giao hai con chung Vũ Thị Á T1và Vũ Hoàng N T3cho ông H3 tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, tại biên bản ghi lời khai thì cháu T2có nguyện vọng ở với mẹ, cháu T1có nguyện vọng được ở cùng ba, bà Đ3 cháu T3hiện nay đang do ông H3 tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định điều kiện về mọi mặt cho các con đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đ4 con chung Vũ Thị T2 T2cho bà Đ5 tiếp nuôi dưỡng; giao con chung tên Vũ Thị Á T1và Vũ Hoàng N T3cho ông H3 tiếp nuôi dưỡng.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con: do bà Đó yêu cầu giải quyết về tiền cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không xét.

Về tài sản chung: Do bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông H không có đơn yêu cầu về phần tài sản chung nên Viện kiểm sát không có ý kiến.

Về nợ chung: Ông, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát huyện H, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Bà Hoàng Thị Đ có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con chung. Bị đơn là ông Vũ Văn H hiện cư trú tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam.
  2. Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn ông Vũ Văn H9 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định.
  3. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của bà Hoàng Thị Đ và ông Vũ Văn H là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T3, huyện H, tỉnh Bình Thuậnvào ngày 27 tháng 4 năm 2009.

    Quá trình giải quyết vụ án, bà Đại thừa N trong cuộc sống hôn nhân có xảy ra mâu thuẫn do cách sống không hợp nhau, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng nhau dẫn đến vợ chồng không thấu hiểu, chia sẻ cho nhau. Ông H10 hành vi bạo lực gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đã hòa giải nhưng ông H8 tới Tòa để giải quyết chứng tỏ ông H8 có thiện chí hòa giải. Bà Đ trình bày từ tháng 6/2024 cho đến nay vợ chồng sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Như vậy chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: bà Hoàng Thị Đ được ly hôn với ông Vũ Văn H11

  4. Về con chung: Bà Đ khai vợ chồng chung sống có 3 con chung tên Vũ Thị Ánh T (nữ), sinh ngày 19/7/2010; Vũ Thị Thanh T1(nữ), sinh ngày 04/5/2012 và Vũ Hoàng N T3(nam), sinh ngày 19/8/2018. Sau khi ly hôn, bà Đ2 nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Thị T2 T2bà đồng ý giao hai con chung Vũ Thị Á T1và Vũ Hoàng N T3cho ông H3 tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, tại biên bản ghi lời khai ngày 14/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam thì cháu T2có nguyện vọng ở với mẹ (bà Đ7 T1có nguyện vọng được ở cùng ba (ông H12 Đkhai cháu T3hiện nay đang do ông H3 tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định và thể chất cũng như tinh thần cũng như điều kiện về mọi mặt cho các con Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đ4 con chung Vũ Thị T2 T2cho bà Đ5 tiếp nuôi dưỡng; giao con chung tên Vũ Thị Á T1và Vũ Hoàng N T3cho ông H3 tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

    Ông H, bà Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

  5. Về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: do bà Đ không yêu cầu ông H2 dưỡng tiền nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
  6. Về tài sản chung: Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, ông H không có đơn yêu cầu giải quyết về phần tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.
  7. Về phần nợ chung: Bà Đ, ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
  8. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  9. Về án phí: Bà Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ: Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Đ được ly hôn ông Vũ Văn H11
  • - Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Vũ Thị Thanh T1(nữ), sinh ngày 04/5/2012 cho bà Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
  • Tiếp tục giao con chung tên tên Vũ Thị Ánh T (nữ), sinh ngày 19/7/2010 và Vũ Hoàng N T3(nam), sinh ngày 19/8/2018 cho ông H3 tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
  • Ông H, bà Đ2 quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
  • Về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Đó yêu cầu ông H cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • Việc thay đổi người nuôi con được thực hiện theo Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
  • - Về án phí: Bà Hoàng Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngày 07/3/2025, bà Đ đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam thu theo biên lai số 0005563, nay chuyển sang án phí và sung công quỹ nhà nước. Bà Đ đã nộp đủ tiền án phí.

- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt nguyên đơn vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (30/5/2025); bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ Bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hàm Thuận Nam;
  • - Toà án ND tỉnh Bình Thuận;
  • - UBND xã Tân Thuận, Hàm Thuận Nam;
  • - Chi cục Thi hành án DS huyện Hàm Thuận Nam;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa

Nguyễn Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Đ xin ly hôn ông Vũ Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger