|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2025 v/v ly hôn giữa chị Phạm Thị Hoài và anh Đặng Xuân Trúc |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Nghị
Ông Trần Xuân Chỉnh
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QÐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1995; nơi cư trú: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Đặng Xuân T, sinh năm 1987; nơi cư trú: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. (vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện nộp ngày 04 tháng 02 năm 2025, trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đặng Xuân T tự nguyện kết hôn ngày 26 tháng 01 năm 2018, hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và tính cách. Vợ chồng hay cãi chửi nhau do anh T nhiều lần rượu chè, say xỉn về đánh đập chị. Anh T cũng không tu chí làm ăn nên không đưa tiền hỗ trợ cùng chị nuôi dạy các con vì thế mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng và trầm trọng. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình và bạn bè khuyên nhủ để vợ chồng khắc phục mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không giảm bớt vì vậy từ đầu tháng 01 năm 2025, chị đã dẫn 03 con về nhà ngoại và vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, trong thời gian ly thân, vợ chồng không quan tâm chăm sóc gì đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực giải quyết cho chị ly hôn anh Đặng Xuân T.
Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Đặng Hoài A, sinh ngày 30-03-2019, (giới tính: Nữ); Đặng Hoài T1, sinh ngày 30-01-2021 (giới tính: Nữ); Đặng Ngọc H1, sinh ngày 30-01-2021 (giới tính: Nữ). Nếu ly hôn chị đề nghị Tòa án giao ba cháu Đặng Hoài A, Đặng Hoài T1 và Đặng Ngọc H1 cho chị trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung để cháu ổn định sinh hoạt, học tập. Vì từ khi ly thân cho đến nay, anh T không cấp dưỡng tiền nuôi con cho các con, không thăm nom mà chỉ gọi điện thoại cho các con. Hiện tại, bố mẹ chị còn khỏe mạnh, hỗ trợ rất nhiều cho chị chăm sóc và nuôi dưỡng các con. Việc cấp dưỡng nuôi con chị đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi mỗi cháu là 2.000.000 đồng/ một tháng (hai triệu đồng/ một tháng).
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: chị Phạm Thị H xác định vợ chồng không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Nam Trực đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh T không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng không tham gia phiên tòa nên anh T không có quan điểm để giải quyết vụ án.
- Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 11-3-2025 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, chính quyền địa phương xác nhận: Chị H và anh T có nơi cư trú tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định vào ngày 26-01-2018. Chị H và anh T có 03 con chung là Đặng Hoài A, sinh ngày 30-3-2019, (giới tính: Nữ); Đặng Hoài T1, sinh ngày 30-01-2021 (giới tính: Nữ); Đặng Ngọc H1, sinh ngày 30-01-2021 (giới tính: Nữ). Do anh T và chị H chung sống không hạnh phúc nên vợ chồng đã ly thân, chị H đã đưa các con đi ở cùng với chị. Anh T hiện vắng mặt tại địa phương không rõ thời điểm trở về nên việc tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T là không thực hiện được. Do chị H và anh T không yêu cầu chính quyền địa phương hòa giải về thủ tục ly hôn nên chính quyền địa phương không biết nguyên nhân mâu thuẫn và điều kiện nuôi con của mỗi bên như thế nào. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh T thì chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị H đã cung cấp cho Tòa án nhân dân huyện Nam Trực các tài liệu chứng cứ là phiếu lương tháng 9, tháng 10, tháng 11, tháng 12 năm 2024 và phiếu lương tháng 1, tháng 2, tháng 3 năm 2025 của chị H. Mức lương trung bình của chị H mỗi tháng là 6.826.889 đồng. Ngoài ra chị H trình bày bổ sung, về phần cấp dưỡng nuôi con, chị và anh T tự thỏa thuận giải quyết vì chị vẫn có khả năng tự nuôi các con được.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên toà đều đảm bảo thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Đặng Xuân T; Về con chung: Giao ba con Đặng Hoài A, sinh ngày 30-3-2019, (giới tính: Nữ); Đặng Hoài T1, sinh ngày 30-01-2021 (giới tính: Nữ); Đặng Ngọc H1, sinh ngày 30-01-2021 (giới tính: Nữ) cho chị Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Về cấp dưỡng nuôi con chị Phạm Thị H và anh Đặng Xuân T tự thỏa thuận, không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị H là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Đặng Xuân T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Phạm Thị H và anh Đặng Xuân T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Đặng Xuân T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N ngày 26-01-2018 nên hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Đặng Xuân T là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, quan điểm sống của vợ chồng không hợp, anh T nhiều lần rượu chè, say xỉn về đánh chị H, anh T không tu chí làm ăn, không đưa tiền hỗ trợ chị H nuôi con nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Vợ chồng ly thân nhau từ đầu tháng 01 năm 2025 cho đến nay, trong thời gian ly thân, vợ chồng không quan tâm chăm sóc gì đến nhau nữa.
Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng đối với anh T nhưng anh T không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gì chứng tỏ anh T không có nguyện vọng đoàn tụ. Nay chị H xác định không còn tình cảm với anh T và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Đặng Xuân T mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Đặng Xuân T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Đặng Hoài A, sinh ngày 30-3-2019, (giới tính: Nữ); Đặng Hoài T1, sinh ngày 30-01-2021 (giới tính: Nữ); Đặng Ngọc H1, sinh ngày 30-01-2021 (giới tính: Nữ). Do anh T hiện vắng mặt tại địa phương không rõ thời điểm trở về nên chị H cũng đã dẫn ba con chung đi với chị. Chị H cũng đề nghị Tòa án cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả ba con chung để các con không bị ảnh hưởng học tập và sinh hoạt. Ngoài ra, chị H cũng đã nộp công ty TNHH G phiếu lương tháng 9, tháng 10, tháng 11, tháng 12 năm 2024, phiếu 01, tháng 02, tháng 03 năm 2025 chứng minh thu nhập của chị H có thể đủ khả năng nuôi cả 03 con chung; bố mẹ chị H còn khỏe mạnh nên hỗ trợ chị H rất nhiều trong việc chăm sóc các con. Hội đồng xét xử nhận thấy việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cả vợ và chồng, việc giao nuôi con chung phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung nên căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao ba con chung Đặng Hoài A, sinh ngày 30-3-2019, (giới tính: Nữ); Đặng Hoài T1, sinh ngày 30-01-2021 (giới tính: Nữ); Đặng Ngọc H1, sinh ngày 30-01-2021 (giới tính: Nữ) cho chị Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Phạm Thị H xác định vợ chồng không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị Phạm Thị H là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Đặng Xuân T .
- Về con chung: Giao con Đặng Hoài A, sinh ngày 30-3-2019, (giới tính: Nữ); Đặng Hoài T1, sinh ngày 30-01-2021 (giới tính: Nữ); Đặng Ngọc H1, sinh ngày 30-01-2021 (giới tính: Nữ) cho chị Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chị Phạm Thị H và anh Đặng Xuân T tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.
Bên không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung
- Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Phạm Thị H đã nộp tại biên lai số 0005293 ngày 10-3-2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ.
- Quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị H và anh Đặng Xuân T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Phạm Thị H, anh Đặng Xuân T có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Phương Thảo |
6
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
