|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 5 – NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 11 năm 2025
V/V: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Hân và bà Nguyễn Thị Hiền Lương.
Thư ký phiên toà: Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 66/2025/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Xóm F, xã X, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Xóm Y, phường V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Duy N, sinh năm 1972; Địa chỉ: Xóm F, xã X, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và trong đơn xin xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Duy N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (Nay là xã X), tỉnh Nghệ An vào ngày 08 tháng 7 năm 2000. Sau khi kết hôn vợ chồng về làm ăn sinh sống tại xã X, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2014 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp. Vợ chồng đã không sống chung với nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị H đề nghị được ly hôn với anh Nguyễn Duy N.
Về trách nhiệm nuôi con chung: vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn Thị X, sinh ngày 14/4/2001 và Nguyễn Duy T, sinh ngày 11/10/2012. Cháu Nguyễn Thị X đã trưởng thành, có công việc làm ổn định và đã xây dựng gia đình cho nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị H có nguyện vọng để cho anh Nguyễn Duy N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Duy T đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong biên bản lấy lời khai ngày 06 tháng 11 năm 2025 bị đơn anh Nguyễn Duy N trình bày:
Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn đúng như chị H trình bày. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, chị Nguyễn Thị H sống không chung thuỷ. Vợ chồng đã không sống chung, không quan tâm, chăm sóc nhau từ năm 2018 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên việc chị Nguyễn Thị H xin ly hôn với anh, anh hoàn toàn nhất trí.
Về trách nhiệm nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị X, sinh ngày 14/4/2001 và Nguyễn Duy T, sinh ngày 11/10/2012. Cháu Nguyễn Thị X đã trưởng thành, có công việc làm ổn định và đã xây dựng gia đình cho nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Còn cháu Nguyễn Duy T hiện đang sống cùng với anh. Vợ chồng ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Duy T đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị Nguyễn Thị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách tố tụng, điều tra thu thập chứng cứ, chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Duy N.
Về trách nhiệm nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Duy T, sinh ngày 11/10/2012 cho anh Nguyễn Duy N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị H do anh N không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Duy N có nơi cư trú tại xã X, tỉnh Nghệ An. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Tại phiên toà nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Nguyễn Duy N vắng mặt nhưng có đơn xin xử vắng mặt. Nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy N kết hôn với nhau hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là xã X), tỉnh Nghệ An theo đúng quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống với nhau hạnh phúc cho đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình sống không hợp nhau. Nay hai bên đều xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên đều nhất trí ly hôn nhau. Xét thậy sự thoả thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái quy định pháp luật. Cho nên, cần chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Duy N.
[2] Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị X, sinh ngày 14/4/2001 và Nguyễn Duy T, sinh ngày 11 /10/2012. Con chung là cháu Nguyễn Thị X đã trưởng thành, có công việc làm ổn định và đã xây dựng gia đình cho nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Còn cháu Nguyễn Duy T hiện đang sống cùng với anh Nguyễn Duy N. Vợ chồng ly hôn, chị H và anh N thống nhất giao cháu Nguyễn Duy T cho anh Nguyễn Duy N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị H do anh N không yêu cầu. Xét thấy sự thoả thuận của các bên không trái đạo đức xã hội và không trái với quy định của pháp luật và hoàn toàn phù hợp với ý kiến của cháu Nguyễn Duy T. Cho nên, cần chấp nhận sự thoả thuận của các bên: Giao cháu Nguyễn Duy T cho anh Nguyễn Duy N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị H.
[3] Về tài sản chung và khoản nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có đơn yêu cầu sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[4] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[5] Về ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An tại phiên tòa. Xét thấy việc tuân theo quy định pháp luật và các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Duy N.
- Về trách nhiệm nuôi con: Giao cháu Nguyễn Duy T, sinh ngày 11/10/2012 cho anh Nguyễn Duy N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị H.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có đơn yêu cầu sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 001085 ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thái Trường Giang |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hương = Nhật
