Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN A LƯỚI

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28/5/2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A LƯỚI, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vĩnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Dương
  2. Bà Lê Thị Mai Loan

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Việt Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện A Lưới, thành phố Huế.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A Lưới, thành phố Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Cao Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện A Lưới, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 09/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh Huyền T, sinh năm: 1987
    Địa chỉ: tổ A, tổ dân phố G, thị trấn A, huyện A, thành phố H, có mặt
  2. Bị đơn: Ông Cao Ngọc C, sinh năm: 1986
    Địa chỉ: tổ A, tổ dân phố G, thị trấn A, huyện A, thành phố H, có mặt.

Người làm chứng: Bà Phan Thị Thiên T1, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: số B đường A, thị trấn A, huyện A, thành phố H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trình bày của nguyên đơn và bị đơn tại các bản tự khai, biên bản hoà giải và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thanh Huyền T trình bày: Bà Nguyễn Thanh Huyền T và ông Cao Ngọc C sau một thời gian tìm hiểu và yêu thương nhau, bà T và ông C

tự nguyện đến Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) đăng ký kết hôn vào ngày 26/8/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do thường xuyên cãi vã, gây gỗ ảnh hưởng đến tâm lý của con, phiền lòng bố mẹ hai bên cũng như ảnh hưởng đến tâm lý công việc của vợ chồng; vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 7 năm 2024 đến nay, không còn quan tâm gì nhau nữa, tình cảm không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng kéo dài, không khắc phục được, nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông C.

- Về con chung: có 01 người con chung, tên là Cao Ngọc Uyên N, sinh ngày 26/6/2012. Khi ly hôn, bà T có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu N cho đến khi cháu N trưởng thành, đủ 18 tuổi. Yêu cầu ông C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho bà T mỗi tháng 3.000.000 đồng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Cao Ngọc C trình bày: Phần trình bày của bà T về tình trạng hôn nhân và con chung là đúng. Ông C và bà T yêu nhau và tự nguyện đến đến Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) đăng ký kết hôn vào ngày 26/8/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm; vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 7 năm 2024 đến nay, tình cảm không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng kéo dài, không khắc phục được. Nay bà T yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn thì ông C đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Ông C không đồng ý giao cháu Cao Ngọc Uyên N cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng mà yêu cầu Toà án giải quyết giao cháu N cho ông C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu N trưởng thành, đủ 18 tuổi. Yêu cầu bà T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho ông C mỗi tháng 2.000.000 đồng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/4/2025 của bà Phan Thị Thiên T1: bà T1 cho biết, bà T và ông C đã sống ly thân gần 01 năm, hiện nay cháu N đang ở với bà T. Bà T1 thấy rằng hiện nay bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N tốt, cho cháu N học hành đầy đủ, luôn yêu thương cháu N.

Tại biên bản xác minh ngày 27/3/2025 tại tổ dân phố G, thị trấn A, huyện A, thành phố H: Bà T và ông C là vợ chồng hợp pháp có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố G, thị trấn A, huyện A, thành phố H. Cách đây khoảng 01 năm, vợ chồng bà T, ông C đã sống ly thân nhau, bà T thuê nhà riêng tại tổ B, tổ dân phố G, thị trấn A, huyện A, thành phố H để ở cùng cháu N. Hiện nay bà T đang là người trực tiếp chăm sóc cháu N, luôn yêu thương, chăm sóc, giáo dục cháu N chu đáo.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, lấy lời khai đương sự, đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho bà T, ông C. Quá trình hòa giải bà T và ông C đồng ý ly hôn, nhưng không thoả thuận được về việc nuôi con. Vì vậy, Tòa án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

3

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 5,7, 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tố cao; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử, giải quyết vụ án theo hướng:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà T và ông C.
  • + Về con chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao cháu N cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, buộc ông C phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con cho bà T mỗi tháng từ 2.500.000 đồng – 3.000.000 đồng, kể từ ngày bản án có hiệu lực phát luật cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
  • + Về án phí: Đề nghị buộc ông C và bà T mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn, ông C phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bà T và ông C. Tại phiên tòa bà T và ông C đều có mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về thẩm quyền: Bị đơn ông Cao Ngọc C cư trú tại tổ A, tổ dân phố G, thị trấn A, huyện A, thành phố H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A Lưới theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh Huyền T và ông Cao Ngọc C sau một thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau, bà T và ông C đã tự nguyện đến Ủy ban nhân dân thị trấn A, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) đăng ký kết hôn vào ngày 26/8/2011, đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, gây gỗ nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2024 đến nay, không còn quan tâm, không yêu thương gì nhau nữa, tình cảm vợ chồng không còn. Quá trình lấy lời khai và hòa giải, ông C đều đồng ý ly hôn với bà T. Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T và ông C đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn

4

nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình cần công nhận thuận tình ly hôn giữa bà T và ông C.

- Về con chung: Bà T và ông C có 01 người con chung tên là Cao Ngọc Uyên N, sinh ngày 26/6/2012, lâu nay cháu Uyên N đang ở với bà T và do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đây là con chung của vợ chồng bà T và ông C. Bà T và ông C đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, ông C và T có đều có thu nhập ổn định, đảm bảo việc nuôi con. Thấy rằng, lâu nay cháu N ở với bà T, được bà T chăm sóc chu đáo, kết quả học tập tốt, cháu N có nguyện vọng được ở với bà T. Vì vậy, cần giao cháu N cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng để bảm đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con. Do đó, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu N cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu N.

- Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Bà T yêu cầu ông C đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu N, cũng như xét về điều kiện kinh tế, thu nhập của ông C thì ông C có đủ khả năng để cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của bà T. Do đó, căn cứ vào các Điều 82, 107, 110, 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình, buộc ông C phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho bà T mỗi tháng 3.000.000 đồng, từ ngày bản án có hiệu lực đến khi cháu N trưởng thành, đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Trước khi mở phiên tòa, các bên đương sự tự nguyện ly hôn, do đó các đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định đối với yêu cầu xin ly hôn. Các đương sự phải chịu án phí thuận tình ly hôn sơ thẩm là 150.000 đồng, theo phần ông C phải chịu 75.000 đồng, bà T phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; Ông C là người có nghĩa vụ cấp dưỡng, do đó ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 147, các Điều 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 55, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

5

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thanh Huyền T và ông Cao Ngọc C.
  2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu Cao Ngọc Uyên N, sinh ngày 26/6/2012 cho bà Nguyễn Thanh Huyền T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Uyên N trưởng thành (đủ 18 tuổi); ông Cao Ngọc C có nghĩa vụ đóng tiền cấp dưỡng nuôi con cho bà Nguyễn Thanh Huyền T mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Uyên N trưởng thành (đủ 18 tuổi).

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

    Vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thanh Huyền T phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng mà bà T đã nộp theo biên lai số: 0002265 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A Lưới, thành phố H, hoàn trả lại cho bà T số tiền chênh lệch 225.000 đồng; Ông Cao Ngọc C phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Tổng số tiền án phí ông C phải chịu là 375.000 đồng

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

  5. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    Án sơ thẩm xét xử công khai, nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện A Lưới;
  • - UBND thị trấn A Lưới (ĐK ngày 26/8/2011);
  • - TAND thành phố Huế;
  • - Chi cục THADS A Lưới;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu dán.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Vĩnh

6

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Dương Lê Thị Mai Loan

Nguyễn Văn Vĩnh

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A LƯỚI, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A LƯỚI, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger