|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày 27-9-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Dịu
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Đặng Thị Đôi
Bà Khúc Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2025/TLST-HNGĐ, ngày 30 tháng 7 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng (trước đây là thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng); vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng (trước đây là thôn N, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng); vắng mặt nhưng đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 17 tháng 6 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Vũ Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh tự nguyện đăng ký kết hôn với chị Bùi Thị L từ ngày 03 tháng 6 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là UBND xã T, thành phố Hải Phòng), Giấy chứng nhận kết hôn số 30. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 11 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, không thống nhất xây dựng kinh tế gia đình, hơn nữa không có con chung nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân cuối tháng 12 năm 2019 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, anh xin ly hôn chị L.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là chị Bùi Thị L khai ngày 02 tháng 8 năm 2025 thống nhất với anh T về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có con chung, từ đó thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ cuối tháng 12 năm 2019 đến nay không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn; chị đồng ý ly hôn anh T.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tuy nhiên, khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; chị L vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, anh T, chị L vắng mặt nhưng đêu có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn anh T vẫn giữ nguyên toàn bộ nội dung, yêu cầu như trên. Chị L vẫn giữ nguyên ý kiến, quan điểm nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đầy quy định của pháp luật tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội, sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự...; Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân; các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Vũ Văn T, cho anh Vũ Văn T được ly hôn chị Bùi Thị L.
- Về con chung: Anh T và chị L không có con chung nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
- [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Vũ Văn T xin ly hôn chị Bùi Thị L tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Chị L đang cư trú tại thôn N, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng); căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định đây là quan hệ pháp luật về “ ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy. Nay căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội, sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 01 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.
- [2] Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Anh T là nguyên đơn; chị L là bị đơn, đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng anh chị đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
- [3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn T xin ly hôn chị Bùi Thị L; căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thì hôn nhân của anh Vũ Văn T và chị Bùi Thị L là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2019, do bất đồng quan điểm sống, không thống nhất xây dựng kinh tế gia đình, hơn nữa vợ chồng không có con chung nên thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Anh chị đã sống ly thân từ cuối tháng 12 năm 2019 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Như vậy đủ cơ sở xác định hôn nhân của anh chị thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; yêu cầu xin ly hôn của anh T có cơ sở chấp nhận nên xử cho anh T được ly hôn chị L là phù hợp với các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cũng như quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa và ý kiến của anh T, chị L trình bày với Tòa án.
- [4] Về con chung: Anh T, chị L không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [5] Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- [6] Về án phí: Anh Vũ Văn T không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật không có giá ngạch.
- [7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; căn cứ Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 01 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn T được ly hôn chị Bùi Thị L.
- Về con chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Anh Vũ Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000275 ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh T đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Anh Vũ Văn T và chị Bùi Thị L đều có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Dịu |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
