TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32 /2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-6-2025
“ V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Cương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Bút
Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lê Mai Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân Lành – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 27/3/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34 ngày 16/6/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ly Na, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Miếu Bông, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang – TP Đà Nẵng. Có mặt.
Bị đơn: Ông Phan Quốc Thịnh, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn Nhơn Thọ 2, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/3/2025, bản tự khai ngày 06/5/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Ly Na trình bày:
Bà Trần Thị Ly Na và ông Phan Quốc Thịnh kết hôn với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2018 ngày 14/3/2018), hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống tại thôn Nhơn Thọ 2, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Quá trình chung sống vợ chồng đến năm 2023 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2024 thì mâu thuẫn trở nên trầm trọng hơn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, chồng bà ông Phan Quốc Thịnh có quan hệ ngoại tình. Vợ chồng bà đã sống ly thân với nhau từ tháng 11/2024 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm, chăm sóc nhau. Hiện bà Trần Thị Ly Na không còn tình cảm với chồng, mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn được. Do đó bà Trần Thị Ly Na đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Quốc Thịnh.
- Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Ly Na xác định vợ chồng bà có 01 con chung tên : Phan Trần Quốc Bảo, sinh ngày 09/7/2018. Ly hôn bà Ly Na đề nghị Tòa án giao con chung Phan Trần Quốc Bảo cho ông Phan Quốc Thịnh trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của gia đình chồng. Bà Trần Thị Ly Na tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung Phan Trần Quốc Bảo mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng.
- Về tài sản chung: Bà Trần Thị Ly Na xác định vợ chồng không có tài sản chung
- Về nợ chung: Bà Trần Thị Ly Na xác định vợ chồng bà không có nợ chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Phan Quốc Thịnh nhưng ông Thịnh không hợp tác nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Phan Quốc Thịnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên tòa: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định tại các Điều từ Điều 239 đến Điều 243; Điều 247; Điều 249 đến Điều 252; Điều 258 và Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Bị đơn chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự không tham gia các phiên hòa giải, không tham gia phiên tòa lần 1 và lần 2.
Về nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy theo bà Trần Thị Ly Na trình bày thì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, theo kết quả xác minh tại địa phương xác định vợ chồng bà Na, ông Thịnh có mâu thuẫn. Bản thân bị đơn ông Phan Quốc Thịnh không hợp tác, không tham gia các phiên hòa giải, các phiên tòa lần 1, lần 2, điều này chứng tỏ ông Thịnh không có thiện chí hòa giải, xây dựng hành phúc gia đình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ly Na, xử cho bà được ly hôn với ông Phan Quốc Thịnh.
Về con chung: Bà Trần Thị Ly Na yêu cầu giao con chung Phan Trần Quốc Bảo, sinh ngày 09/7/2018 cho ông Phan Quốc Thịnh trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi. Xét thấy theo bà Ly Na trình bày từ khi ly thân đến nay con chung Phan Trần Quốc Bảo ở với cha là ông Phan Quốc Thịnh, hiện ông Thịnh có việc làm, có chỗ ở đảm bảo chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Ngoài ra, ông Thịnh còn có sự hỗ trợ, giúp đỡ của ông, bà nội trong việc chăm sóc, đưa đón cháu đi học nên giao con chung cho ông Thịnh trực tiếp nuôi dưỡng sẽ tốt hơn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ly Na, giao con chung Phan Trần Quốc Bảo cho ông Phan Quốc Thịnh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà Trần Thị Ly Na tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung Phan Trần Quốc Bảo mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Ly Na xác định không có tài sản chung, không có nợ chung nên không xem xét.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa và những tình tiết của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân gia đình “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” bị đơn là ông Phan Quốc Thịnh có địa chỉ nơi cư trú tại: Thôn Nhơn Thọ 2, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa bị đơn ông Phan Quốc Thịnh vắng mặt, tuy nhiên đây là lần vắng mặt thứ 2 của ông Thịnh. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Phan Quốc Thịnh.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của đương sự, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày, nguyện vọng của đương sự và ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ly Na và ông Phan Quốc Thịnh kết hôn với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2018 ngày 14/3/2018), hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống tại thôn Nhơn Thọ 2, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Quá trình chung sống vợ chồng đến năm 2023 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2024 thì mâu thuẫn trở nên trầm trọng hơn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn theo bà Trần Thị Ly Na trình bày là do vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, chồng bà ông Phan Quốc Thịnh có quan hệ ngoại tình. Vợ chồng bà đã sống ly thân với nhau từ tháng 11 năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm, chăm sóc nhau. Hiện bà không còn tình cảm yêu thương với ông Thịnh, mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn được. Do đó bà Trần Thị Ly Na đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Quốc Thịnh.
Theo kết quả xác minh tại địa phương xác định: Qúa trình chung sống tại thôn Nhơn Thọ 2, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng thì vợ chồng bà bà Trần Thị Ly Na và ông Phan Quốc Thịnh có xảy ra mẫu thuẫn, còn mâu thuẫn về vấn đề gì thì địa phương không rõ.
Như vậy, việc bà Trần Thị Ly Na trình bày quá trình chung sống vợ chồng bà có mâu thuẫn là có căn cứ. Mặt khác bị đơn ông Phan Quốc Thịnh dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không hợp tác, không tham gia các phiên hòa giải, không tham gia phiên tòa, điều này chứng tỏ ông Thịnh không có thiện chí hòa giải, xây dựng hạnh phúc gia đình. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Trần Thị Ly Na và ông Phan Quốc Thịnh đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ly Na cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử cho bà Trần Thị Ly Na được ly hôn với ông Phan Quốc Thịnh.
[3] Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Ly Na yêu cầu giao con chung Phan Trần Quốc Bảo, sinh ngày 09/7/2018 cho ông Phan Quốc Thịnh trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi sẽ tốt hơn cho quyền lợi của con chung. Xét thấy từ khi bà Ly Na và ông Thịnh ly thân đến nay con chung Phan Trần Quốc Bảo ở với cha là ông Phan Quốc Thịnh, hiện ông Thịnh có việc làm, có chỗ ở đảm bảo chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Ngoài ra theo bà Ly Na trình bày nếu giao con chung cho Thịnh trực tiếp nuôi dưỡng còn có sự giúp đỡ của ông, bà nội trong việc chăm sóc, đưa đón cháu đi học. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ly Na cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, giao con chung Phan Trần Quốc Bảo cho ông Phan Quốc Thịnh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà Trần Thị Ly Na tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung Phan Trần Quốc Bảo mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Ly Na xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không xem xét.
[5] Về án phí: Bà Trần Thị Ly Na phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
2. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ly Na đối với ông Phan Quốc Thịnh về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
2.1 Về quan hệ hôn nhân:
Xử cho bà Trần Thị Ly Na được ly hôn với ông Phan Quốc Thịnh.
2.2 Về con chung:
Giao con chung tên Phan Trần Quốc Bảo, sinh ngày 09/7/2018 cho ông Phan Quốc Thịnh trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận nguyên đơn bà Trần Thị Ly Na tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung Phan Trần Quốc Bảo, sinh ngày 09/7/2018 mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2025 cho đến khi con chung Phan Trần Quốc Bảo đủ 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày ông Phan Quốc Thịnh có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Trần Thị Ly Na không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng bà Trần Thị Ly Na còn phải chịu tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
2.3 Về tài sản chung:
Bà Trần Thị Ly Na xác định không có nên không xem xét.
2.4 Về nợ chung:
Bà Trần Thị Ly Na xác định không có nên không xem xét.
3. Về án phí:
Bà Trần Thị Ly Na phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Tổng cộng là 600.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà Trần Thị Ly Na đã nộp tại biên lai thu số 0008516 ngày 26/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang. Còn lại bà Trần Thị Ly Na phải nộp là 300.000 đồng.
4. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Văn Cương |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ giữa Trần Thị Ly N, Phan Quốc T
