Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 32/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26/5/2025

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Hưng.

2. Ông Phạm Xuân Khoa.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nông Thị Lê Na – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên: Bà Bùi Ngọc Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 26/5/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đại Từ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 44/2025TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 27/2025/QÐST-HNGĐ ngày 11/4/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1989 (xin vắng mặt)

HKTT và chỗ ở: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Út L, sinh năm 1991 (xin vắng mặt)

HKTT: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Chỗ ở hiện tại: Tổ D, KP. L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự trình bày như sau:

Nguyên đơn anh Hoàng Văn K trình bày: Anh và chị Út L có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 19/12/2011 trên cơ sở tự nguyện và được gia đình hai bên tổ chức hôn lễ theo phong tục địa phương. Sau khi cưới vợ chồng sống cùng bố mẹ chồng tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó khoảng gần 02 năm sau khi sinh con thì vợ chồng vào miền N làm ăn và sinh sống. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến đầu năm 2016 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, lối sống khác nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Do không thể hòa hợp, hàn gắn được nên vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2016 đến nay, anh K đã chuyển về miền B làm ăn, không còn sinh sống với nhau nữa. Đến nay, anh K xác định mâu thuẫn kéo dài, đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân căng thẳng, áp lực, không có hạnh phúc, không thể tiếp tục cuộc hôn nhân nên đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Anh C, sinh ngày 29/01/2012. Hiện cháu C đang ở với chị Nguyễn Thị Út L. Khi ly hôn, anh K đồng ý để chị Út L trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu C. Về cấp dưỡng nuôi con, anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Út L trình bày: Chị và anh K đăng ký kết hôn năm 2011 tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện sau khi cưới sống cùng bố mẹ chồng ở xã B, được hơn một năm thì chuyển vào Đồng Nai làm ăn, thỉnh thoảng mới về nhà. Quá trình chúng sống vợ chồng thì hoà thuận đến đầu năm 2015 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi vã nên đã ly thân từ năm 2016 đến nay không còn quan tâm đến nhau, anh K không ở cùng mẹ con chị, cuộc sống hôn nhân hai vợ chồng không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, anh K xin ly hôn chị nhất trí, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Anh C, sinh ngày 29/01/2012, hiện nay cháu cường đang ở với chị. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu C. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải để các đương sự về đoàn tụ với nhau và thỏa thuận với nhau các vấn đề giải quyết trong vụ án. Tuy nhiên, chị Út L xin vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, nên cần phải đưa vụ án ra xét xử để xem xét yêu cầu khởi kiện và nguyện vọng của các bên.

Tại phiên tòa xét thấy, nguyên đơn anh Hoàng Văn K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Nguyễn Thị Út L và giao con chung là cháu Hoàng Anh C, sinh ngày 29/01/2012 cho chị Nguyễn Thị Út L trực tiếp chăm sóc, không đề nghị giải quyết cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung. Bị đơn xin xét xử vắng mặt.

* Phát biểu của Kiểm sát viên:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật; Xác định đúng quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án. Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của nguyên đơn anh Hoàng Văn K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hoàng Văn K được ly hôn chị Nguyễn Thị Út L.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Anh C, sinh ngày 29/01/2012 cho chị Nguyễn Thị Út L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Hoàng Văn K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hoàng Văn K và chị Nguyễn Thị Út L tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không xem xét.

Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Theo nội dung đơn khởi kiện của anh Hoàng Văn K xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Út L, sinh năm 1991, có HKTT tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Đây là vụ án về tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Út L và anh Hoàng Văn K có đơn xin xử vắng mặt. Do đó áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn K và chị Nguyễn Thị Út L đăng ký kết hôn ngày 19/12/2011 tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Việc kết hôn là tự nguyên, không bị lừa dối, cưỡng ép. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh Hoàng Văn K và chị Nguyễn Thị Út L là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

[2.2]. Về tình cảm vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: Sau khi kết hôn, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2016 cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi vã và không chia sẻ được với nhau, vợ chồng ly thân từ năm 2016 đến nay, anh K và chị Út L đều xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau, đề nghị Toà án cho anh K và chị Út L được ly hôn.

Xét tình trạng hôn nhân giữa anh K và chị Út L, HĐXX thấy rằng: Thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, nhưng kể từ năm 2016 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi vã và không chia sẻ được với nhau, vợ chồng ly thân từ năm 2016 đến nay không còn quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với nhau nên hôn nhân không đạt được hạnh phúc. Đến nay cả anh K và chị Ú Lớn đều xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể hằn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng anh chị được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Hoàng Văn K và chị Nguyễn Thị Út L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của anh Hoàng Văn K là có căn cứ và được chấp nhận.

[2.3]. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh Hoàng Văn K và chị Nguyễn Thị Út L có 01 con chung là cháu Hoàng Anh C, sinh ngày 29/01/2012. Hiện nay cháu C đang ở với mẹ, quá trình giải quyết cháu C có nguyện vọng ở với mẹ, anh K và chị Út L đều thống nhất khi ly hôn sẽ giao cháu Hoàng Anh C, sinh ngày 29/01/2012 cho chị Nguyễn Thị Út L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu C cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. HĐXX thấy rằng cần giao con chung là cháu Hoàng Anh C, sinh ngày 29/01/2012 cho chị Nguyễn Thị Út L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi phù hợp với nguyện vọng của con và của anh K, chị Út L. Anh Hoàng Văn K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết anh K và chị Út L không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[2.4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Hoàng Văn K và chị Nguyễn Thị Út L xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

2.4. Về án phí: Anh Hoàng Văn K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 57, Điều 81, 82, và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Văn K về việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với chị Nguyễn Thị Út L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hoàng Văn K được ly hôn chị Nguyễn Thị Út L.

2. Về con chung: Anh Hoàng Văn K được ly hôn chị Nguyễn Thị Út L có 01 con chuhng là cháu Hoàng Anh C, sinh ngày 29/01/2012. Giao cho chị Nguyễn Thị Út L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Anh C, sinh ngày 29/01/2012 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Văn K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hoàng Văn K và chị Nguyễn Thị Út L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Khi xét thấy cần thiết hoặc do điều kiện sống có sự thay đổi, vợ chồng có thỏa thuận khác phù hợp với quy định pháp luật và vì lợi ích của con chung, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu hoặc thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Anh Hoàng Văn K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai 0005830 ngày 13/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND H. Đại Từ;
  • - THADS H. Đại Từ;
  • - UBND xã Bình Thuận,H. Đại Từ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger