|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/02/2025 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Lê Thu Hương |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Mai Thị Viện |
| Bà Nguyễn Thị Hương |
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 202/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con sau khi ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1995. Vắng mặt.
Số CCCD: [...], cấp ngày 17/8/2021.
Địa chỉ: Thôn I, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
- Bị đơn: Anh Ngô Thế A, sinh năm 1990. Vắng mặt.
Số CCCD: [...]; Số hộ chiếu: K0412176
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã L, huyện H, Thanh Hóa
Hiện đang sinh sống tại Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về hôn nhân:
Chị và anh Ngô Thế A kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn ngày 25/4/2013 tại UBND xã H, huyện H, Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau nên anh chị sống ly thân, đến cuối năm 2022 anh Ngô Thế A đi sang Đài Loan theo diện xuất khẩu lao động. Tình cảm vợ chồng xa nhau mâu thuẫn càng lớn, không tìm được tiếng nói chung nên ngày càng trầm trọng, lạnh nhạt, rạn nứt, khó hàn gắn, hiện nay anh Ngô Thế A không còn quan tâm đến chị và các con.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Ngô Thế A không còn, không thể hàn gắn, mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Thế A.
Về con chung:
Vợ chồng có 02 con chung là các cháu: Ngô Nguyễn Gia L1, sinh ngày 11/12/2013 và Ngô Nguyễn Gia B, sinh ngày 09/5/2019. Chị có nguyện vọng xin được nuôi 02 con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu anh Ngô Thế A phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung:
Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu giải quyết
-
Bị đơn là anh Ngô Thế A không có mặt tại Việt Nam, và không có địa chỉ ở nước ngoài.
-
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/01/2025 ông Ngô Ngọc T là bố đẻ của anh Ngô Thế A trình bày:
Anh Thế A và chị L kết hôn với nhau năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc. Năm 2022 Thế A đi lao động tại Đài Loan, chị L đi làm công ty nên về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng ở xa nhau nên có mâu thuẫn, còn mâu thuẫn thế nào ông không biết. Hiện nay Thế A đang ở Đài Loan, còn chị L ở nhà bố mẹ đẻ tại huyện N. Ông không biết địa chỉ cụ thể của anh Thế A ở Đài Loan nên không thể cung cấp cho Toà án được, anh Thế A thường xuyên liên lạc với bố mẹ qua điện thoại nhưng không nói địa chỉ ở Đài Loan cho gia đình biết.
Ông có nghe Thế A nói về việc chị L muốn ly hôn, việc ly hôn của anh chị, ông không có ý kiến gì. Ông cũng đã nói với Thế A việc chị L đang làm đơn ly hôn, ý kiến của Thế A là đồng ý ly hôn, nhưng do hiện nay đang ở nước ngoài không thể làm giấy tờ gì được, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung:
Anh Thế A và chị L có 02 con chung là các cháu Ngô Nguyễn Gia L1, sinh năm 2013 và Ngô Nguyễn Gia B, sinh năm 2019. Hiện nay cháu Gia L1 đang ở với gia đình ông, còn cháu Gia B đang ở với mẹ.
Về tài sản chung:
Anh Thế A và chị L không có tài sản chung.
Ông đồng ý nhận tất cả các văn bản do Toà án giao và cam kết sẽ có trách nhiệm thông báo lại cho anh Thế A biết.
-
Tại phiên tòa sơ thẩm,
-
- Chị Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Ngô Thế A không có mặt tại phiên tòa.
-
- Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Ngô Thế A; Về con chung: Giao cho chị L trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Ngô Nguyễn Gia L1, sinh ngày 11/12/2013 và cháu Ngô Nguyễn Gia B, sinh ngày 09/5/2019. Anh Ngô Thế A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
-
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
-
- Về thẩm quyền: Trong Đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị L trình bày hiện nay anh Ngô Thế A đang sinh sống tại Đài Loan. Tại công văn số: 4608/XNC(T3) ngày 18/10/2024 của Phòng quản lý XNC Công an tỉnh T về việc trao đổi thông tin, lịch sử xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam, nội dung: Ngô Thế A, sinh ngày 19/10/1990; CCCD số: [...], đã sử dụng hộ chiếu số K0412176 để xuất cảnh ngày 14/8/2022 qua sân bay N, đến nay chưa có thông tin nhập cảnh về nước.
Ông Ngô Ngọc T (bố đẻ anh Ngô Thế A) trình bày hiện nay anh Thế A đang ở Đài Loan.
Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
-
- Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Chị Là chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú trước khi xuất cảnh của anh Ngô Thế A ở Việt Nam, không cung cấp được địa chỉ của anh Thế A ở nước ngoài. Gia đình anh Thế A liên lạc qua điện thoại với anh, nhưng không biết địa chỉ nơi làm việc, sinh sống hiện nay của anh tại Đài Loan.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định tố tụng cho gia đình anh Ngô Thế A, đồng thời niêm yết các văn bản tố tụng tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa là nơi gia đình anh Thế A đang sinh sống; bố đẻ anh Thế A cam kết nhận văn bản, quyết định của Toà án và thông báo đầy đủ thông tin cho anh Thế A.
Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Thế A vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng các đương sự.
[2]. Xét nội dung khởi kiện của chị Nguyễn Thị L:
-
[2.1]. Về hôn nhân:
Chị L và anh Ngô Thế A kết hôn năm 2013, có Giấy chứng nhận kết hôn số 11; quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 25/4/2013, là hôn nhân hợp pháp.
Chị L trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2022 và đã sống ly thân trước khi anh Thế A đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Theo gia đình anh Thế A thì hiện tại vợ chồng đang có mâu thuẫn, anh Thế A đã biết việc chị L xin ly hôn và cũng đồng ý ly hôn với chị L.
Xét thấy, mâu thuẫn của chị L và anh Thế A đã trầm trọng, quá trình giải quyết vụ án, hai bên không có mong muốn hoặc biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn, cải thiện tình cảm vợ chồng, chị L tha thiết xin ly hôn, gia đình anh Thế A trình bày đã thông báo việc chị L xin ly hôn cho anh Thế A biết và anh đồng ý ly hôn, ngoài ra Tòa án không nhận được ý kiến phản hồi nào của anh Thế A đối với yêu cầu xin ly hôn của chị L. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L, cho chị L được ly hôn anh Ngô Thế A.
-
[2.2]. Về con chung:
Chị L trình bày và xuất trình giấy khai sinh xác định chị và anh Thế A có 02 con chung là cháu Ngô Nguyễn Gia L1, sinh ngày 11/12/2013 và cháu Ngô Nguyễn Gia B, sinh ngày 09/5/2019. Gia đình anh Thế A cũng xác định anh Thế A và chị L có 02 con chung. Hiện nay chị L đang nuôi 01 con chung, gia đình anh Thế A đang nuôi 01 con chung của anh chị.
Xét thấy, hiện nay anh Thế A đang đang sinh sống ở nước ngoài không thể trực tiếp nuôi con chung, chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi 02 con chung sau khi ly hôn là phù hợp với điều kiện thực tế. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng của chị L, giao 02 con chung chưa thành niên của vợ chồng cho chị trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Khi có điều kiện trực tiếp nuôi con và có yêu cầu, anh Thế A có quyền khởi kiện thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L tự nguyện không yêu cầu anh Thế A cấp dưỡng nuôi con chung, anh Thế A không có ý kiến gì trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ án. Vì vậy, HĐXX chấp nhận sự tự nguyện của chị L, anh Thế A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Nhưng trong quá trình nuôi dưỡng con chung chưa thành niên, nếu thấy cần thiết chị L có quyền khởi kiện yêu cầu anh Thế A cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật để bảo đảm cuộc sống cho con chung chưa thành niên của anh chị.
-
[2.3]. Về tài sản chung và công nợ:
Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
-
[3]. Về án phí:
Chị L phải chịu án phí sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 266; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.
-
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Ngô Thế A.
-
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Ngô Nguyễn Gia L1, sinh ngày 11/12/2013 và Ngô Nguyễn Gia B, sinh ngày 09/5/2019. Giao cả 02 con chung của vợ chồng cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn.
Anh Ngô Thế A không phải cấp dưỡng nuôi con chung, và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
-
- Về tài sản và công nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
-
Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Biên lai thu số: 0000664 ngày 11/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
-
Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Anh Ngô Thế A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày gia đình anh nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thu Hương |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
