|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày 24-11-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Xuân Hường
2. Nguyễn Văn Lương
- Thư ký phiên toà: Bà Bạch Thị Hà, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 93/2025/TLST-HNGĐ, ngày 02/10/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/11/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy M, sinh ngày 05/9/1982; số căn cước [...]; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã H, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).
2. Bị đơn: Chị Võ Thị H; sinh ngày 04/5/1990; số căn cước: [...]; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ liên lạc: Số G N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn, văn bản trình bày ý kiến của bị đơn cũng như các tài liệu thu thập trong quá trình giải quyết, vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn anh Nguyễn Duy M trình bày: Quan hệ hôn nhân: Anh và chị Võ Thị H đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 08/6/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã H, tỉnh Hà Tĩnh) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 01/2016 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên anh M làm đơn yêu cầu Tòa án xét xử cho anh được ly hôn với chị Võ Thị H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung. Họ và tên: Nguyễn Nam P, sinh ngày 31/01/2016. Nguyên đơn yêu cầu giao con chung cho bị đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng từ thời điểm ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Văn bản trình bày ý kiến đề ngày 10/10/2025 bị đơn chị Võ Thị H trình bày: Về quan hệ hôn nhân chị đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Duy M. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung. Họ và tên: Nguyễn Nam P, sinh ngày 31/01/2016. Chị đồng ý trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và đồng ý mức cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng của anh M, tuy nhiên chị yêu cầu anh M thực hiện việc cấp dưỡng 01 lần, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 01/10/2025 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý với phương thức cấp dưỡng tiền nuôi con một lần mà yêu cầu thực hiện theo phương thức cấp dưỡng hàng tháng. Bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ việc, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Về điều luật áp dụng: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 55, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 118 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5; điểm a, điểm d khoản 6 Điều 27 và mục A danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Duy M: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Duy M và chị Võ Thị H. Về quan hệ con chung: Đề nghị công nhận sự thỏa thuận giao con chung Nguyễn Nam P, sinh ngày 31/01/2016 cho chị Võ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận về mức cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng. Về phương thức cấp dưỡng: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh M cấp dưỡng theo phương thức hàng tháng. Quan hệ tài sản chung, nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Các bên phải chịu án phí theo quy định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến tranh luận của nguyên đơn, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh tham gia phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh giải quyết việc ly hôn và người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã H, tỉnh Hà Tĩnh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc vắng mặt bị đơn: Tại phiên tòa bị đơn chị Võ Thị H vắng mặt nhưng có văn bản trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[2] Nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Duy M và chị Võ Thị H đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 08/6/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã H, tỉnh Hà Tĩnh) trên cơ sở tự nguyện. Căn cứ quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, hôn nhân giữa anh Nguyễn Duy M và chị Võ Thị H là hợp pháp.
Xác định tình trạng hôn nhân của anh M và chị H thấy rằng: Theo nguyên đơn vợ chồng phát sinh mâu thuẫn sau thời điểm kết hôn 03 tháng và đã ly thân từ tháng 01/2016 cho đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm. Anh M không còn tình cảm với chị H và mong muốn ly hôn. Bị đơn chị Võ Thị H mặc dù không trình bày về thời điểm phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn nhưng đồng ý ly hôn với nguyên đơn. Như vậy, tình cảm vợ chồng giữa anh M và chị H hiện không còn, mâu thuẫn đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 55 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Duy M và chị Võ Thị H.
[2.2] Về quan hệ con chung: Nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận, vợ chồng có 01 con chung. Họ và tên: Nguyễn Nam P, sinh ngày 31/01/2016. Mặc dù, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không lấy được ý kiến của cháu P về nguyện vọng ở với ai của cháu nhưng đây không phải là căn cứ để Tòa án đình chỉ hay tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Khi giải quyết giao con chung cho cha hoặc mẹ nuôi dưỡng, Tòa án đã xem xét toàn diện về mọi mặt của cháu P. Do đó, từ trước đến nay cháu chung sống với chị H và bố mẹ chị H1, được họ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H và anh P đã thống nhất giao con chung cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy để đảm bảo về mặt tâm lý và ổn định cuộc sống hiện tại của cháu P, hội đồng xét xử xét thấy cần công nhận thỏa thuận của anh M và chị H, giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung:
Đối với mức cấp dưỡng: Các bên đã thống nhất mức cấp dưỡng tiền nuôi con chung của người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn mỗi tháng 2.000.000 đồng. Sự thỏa thuận này là tự nguyện, đúng quy định của pháp luật nên được công nhận.
Về phương thức cấp dưỡng: Nguyên đơn và bị đơn không thống nhất phương thức cấp dưỡng. Nguyên đơn yêu cầu cấp dưỡng theo phương thức hàng tháng và thực hiện vào ngày 15 hàng tháng. Bị đơn yêu cầu cấp dưỡng theo phương thức một lần. Theo quy định tại Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình: Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng. Xét thấy: Người có nghĩa vụ cấp dưỡng anh Nguyễn Duy M là lao động tự do, không có công ăn việc làm ổn định, nên việc cấp dưỡng một lần hoặc hàng quý, nửa năm, một năm sẽ không đảm bảo khả năng thực hiện vì vậy hội đồng xét xử chấp nhận phương thức cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[2.4] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 118 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5; điểm a, điểm d khoản 6 Điều 27 và mục A danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ khoản 3 Điều 7, điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Duy M:
1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Duy M và chị Võ Thị H.
2. Về quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung họ và tên: Nguyễn Nam P, sinh ngày 31/01/2016 cho chị Võ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về mức cấp dưỡng: Công nhận sự tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung của anh Nguyễn Duy M mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) kể từ thời điểm ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Về phương thức cấp dưỡng: Chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung của anh Nguyễn Duy M theo phương thức hàng tháng và vào ngày thứ 15 của tháng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án. Nếu bên phải thi hành không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền phải thi hành án thì còn phải chịu tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Duy M nộp 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ (anh M đã nộp 300.000 đồng theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí số [...] ngày 02/10/2025; mã tham chiếu G22.99.7-251002290298 tại Kho bạc Nhà nước khu vực X), nay còn phải nộp 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Hạnh |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
