TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày 24-6-2025 “Về việc ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nghị và bà Kiều Thị Thắng
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 16/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lý Văn M, sinh năm 2000, địa chỉ: thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Khổng Thị Hương G, sinh năm 2006, địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Lý Văn M trình bày:
Anh kết hôn với chị Khổng Thị Hương G ngày 27/5/2024, trước khi cưới có tự do tìm hiểu một thời gian ngắn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau ngày cưới chị G về làm dâu và ở chung cùng gia đình anh M. Ngay khi mới về chung sống giữa hai vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai vợ chồng không hợp tính nhau trong nhiều vấn đề, thường xuyên hàng ngày xảy ra xô sát, cãi chửi nhau. Đến cuối năm 2024 thì vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, anh chị ly thân từ cuối năm 2024, đến tháng 01 năm 2025 anh làm đơn xin ly hôn chị G. Khi chị G biết anh làm đơn ly hôn gửi đến Tòa án và được Tòa án báo gọi hai anh chị đến làm việc nhưng chị G không đến. Đến đầu tháng 3 năm 2025 chị G đã yêu cầu anh cùng chị G đến Công an xã H để làm thủ tục chuyển khẩu cho chị G về thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nhưng anh không đồng ý, anh yêu cầu chị G đến Tòa án để giải quyết xong việc ly hôn rồi mới chuyển khẩu về xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nhưng chị G bảo với anh rằng cứ đến Tòa án làm thủ tục ly hôn đi, chị G không đến thì Tòa án vẫn giải quyết. Sau đó tự chị G đến Công an xã H làm thủ tục chuyển khẩu về thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang cùng với mẹ chị G. Sau đó anh đến Công an xã H hỏi cán bộ công an xã thì được biết chị G đã chuyển khẩu đến xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang từ ngày 05/3/2025, hiện nay chị G đang ở cùng mẹ đẻ tại thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Nay anh xác định không còn tình cảm với chị G, anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị G.
Về con chung: Anh Minh, chị G không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện nay chị G không có thai.
Về tài sản, công nợ, công sức: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn chị Khổng Thị Hương G đến Tòa án làm việc, nhưng chị G đều vắng mặt không có lý do. Toà án đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H và Công an xã H được biết trong thời gian anh M, chị G chung sống, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do hai anh chị tuổi còn trẻ, trước khi kết hôn chưa tìm hiểu rõ về nhau, khi về chung sống thường xảy ra bất đồng. Đến ngày 05/3/2025 chị G đã làm thủ tục chuyển hộ khẩu thường trú về thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lý Văn M, cho anh Lý Văn M được ly hôn chị Khổng Thị Hương G. Về án phí, anh M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Lý Văn M đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Khổng Thị Hương G, do vậy xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án (ngày 08/01/2025) chị G có có nơi cư trú tại thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, đến ngày 05/3/2025 chị G đã chuyển hộ khẩu thường trú đến xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Lý Văn M vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị G đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh M, chị G.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Văn M và chị Khổng Thị Hương G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong nhiều vấn đề, mặc dù thời gian chung sống không nhiều nhưng thường xuyên xảy ra cãi cọ, chửi mắng nhau. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng từ cuối năm 2024 dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân, trong thời gian đó hai anh chị không quan tâm đến nhau, cũng không có biện pháp gì để cải thiện tình cảm vợ chồng. Xét thấy hôn nhân giữa anh M và chị G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của anh M, cho anh M được ly hôn với chị G.
[3] Về con chung: Anh Minh và chị G không có con chung nên không đề nghị Toà án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản, công nợ, công sức: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Lý Văn M phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Cho anh Lý Văn M ly hôn chị Khổng Thị Hương G.
- Về án phí: Anh Lý Văn M phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000605 ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương.
- Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Minh Hoàng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Nghị Kiều Thị Thắng | Lê Minh Hoàng |
4
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Văn M - Khổng Thị Hương G - Ly hôn
