TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 3 - 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trãi;
Bà Lê Thị Thu Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký viên Tòa án nhân Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2024/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST - HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim P, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, TP ..
Địa chỉ liên hệ: Công ty T1, ấp T, P, T, An Giang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, TP .. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Huỳnh Thị Kim P trình bày: Bà Huỳnh Thị Kim P và ông Phạm Văn T thông qua sự mai mối và có thời gian tìm hiểu, nên đã tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận Ô, TP . vào ngày 27/3/2018. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, vợ chồng không có tiến nói chung, thường xuyên cãi nhau, ông T cờ bạc, không quan tâm đến vợ con, nên bà P đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Mặc dù, đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Do thấy, hôn nhân không hạnh phúc, nên bà P ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà P và ông T có 01 con chung là Phạm Phúc H (nam), sinh ngày 27/9/2019. Cháu H hiện đang được ông T và gia đình ông T nuôi dưỡng với điều kiện ăn, ở, học tập rất tốt. Nên bà P tự nguyện giao cháu H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, bà P tự nguyện cấp dưỡng cho cháu H mỗi tháng 1.000.000 đồng, đến khi cháu H tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, không khai chứng cứ vào hòa giải, nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được, vụ án được đưa ra xét xử vụ án theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Huỳnh Thị Kim P và ông Phạm Văn T, tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà P có đơn xin ly hôn với ông T đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Tranh chấp này, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn quận Ô, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ô Môn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với ông T, nhưng ông T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, bà P có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông T và bà P theo định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông T tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND phường T vào ngày 27/3/2018 nên, xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Bà P cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn bắt nguồn từ năm 2020, do tính tình không hòa hợp, vợ chồng không có tiến nói chung, thường xuyên cãi nhau, ông T cờ bạc, không quan tâm đến vợ con, nên bà P đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập nhiều lần, nhưng ông T vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà P. Điều đó chứng tỏ, ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà P, mâu thuẫn vợ chồng giữa các đương sự đã thật sự sâu sắc, trầm trọng, mục đích hôn nhân là hạnh phúc không đạt được. Nên, yêu cầu ly hôn của bà P đối với ông T là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về con chung: Bà P và ông T có 01 con chung là Phạm Phúc H (nam), sinh ngày 27/9/2019. Cháu H hiện đang được ông T và gia Thoại nuôi dưỡng, bà P không có tranh chấp về việc nuôi con mà tự nguyện giao cháu H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Do, cần phải tạo điều kiện cho cháu H có sự ổn định và tránh sự xáo trộn về nơi ăn, ở, học tập để được phát triển toàn diện, nên tiếp tục giao cháu H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp.
Mặc dù, ông T vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến của ông P về vấn đề việc cấp dưỡng nuôi con, nhưng bà P có ý kiến tự nguyện cấp dưỡng cho cháu H mỗi tháng 1.000.000 đồng, đến khi cháu H tròn 18 tuổi.
Về vấn đề này, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.
Khoản 2 và 3 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTPngày 16/5/2024 quy định: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”; “Trường hợp các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng.”
Nghị định 74/2024/ NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định tại quận Ô, TP . thuộc vùng II, có mức lương tối thiểu là 4.410.000 đồng/tháng.
Đối chiếu các quy định nêu trên, bà P là người không trực tiếp nuôi con, nên có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung. Giữa bà P và ông T không có sự thỏa thuận về mức cấp dưỡng và hình thức cấp dưỡng, bà P chỉ có tự nguyện cấp dưỡng cho con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng là thấp hơn so với quy định (một nữa tháng lương tối thiểu vùng), nên bà P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu H với số tiền 2.205.000 đồng (mức lương tối thiểu vùng 4.410.000 đồng : 2 = 2.205.000 đồng) đến khi cháu H tròn 18 tuổi là phù hợp.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà P không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Do ông T vắng mặt, nên chưa ghi nhận được ý kiến của ông T về vấn đề này. Nên, tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp.
[6] Về án phí: Bà P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Áp dụng:
Điều 51, Điều 56, Điều 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim P đối với ông Phạm Văn T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim P được ly hôn với ông Phạm Văn T.
Về con chung: Ông Phạm Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Phúc H (nam), sinh ngày 27/9/2019, đến tuổi trưởng thành. Bà Huỳnh Thị Kim P có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung Phạm Phúc H mỗi tháng 2.205.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu H tròn 18 tuổi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà P, không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Về tài sản chung và nợ chung: Tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp.
Về án phí: Bà Huỳnh Thị Kim P chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, 300.000 đồng án phí cấp dưỡng, chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà P đã nộp theo biên lai số 0002241 ngày 22/11/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành tiền án phí, bà P phải nộp thêm số tiền 300.000 đồng án phí.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Kiệt |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận cho ly hôn
