|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22 - 10 - 2025 V/v: “Ly hôn giữa chị Nga và anh Thoại”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Giao;
Ông Tống Thái Dương.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 65/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mai Thị N, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn A, xã X, tỉnh Ninh Bình;
- Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn A, xã X, tỉnh Ninh Bình.
- Người làm chứng: Ông Bùi Viết T1, sinh năm 1947; địa chỉ: Thôn A, xã X, tỉnh Ninh Bình.
(Tại phiên toà chị N, anh T, ông T1 có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/8/2025, quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn chị Mai Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã X nay là xã X cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2001.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc tại nhà bố mẹ đẻ anh T tại thôn A, xã X, tỉnh Ninh Bình. Đến năm 2022 vợ chồng mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T, hôn nhân không có hạnh phúc nên nguyện vọng của chị xin được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 3 con chung là cháu Bùi Thị Thúy Q, sinh ngày 30/9/2002, cháu Bùi Thùy T2, sinh ngày 09/10/2007, cháu Bùi Diễm H, sinh ngày 14/3/2012. Cháu Q đã trưởng thành nên chị N không yêu cầu Toà án giải quyết. Tại đơn khởi kiện và bản tự khai chị N nhận nuôi cả hai cháu Bùi Thùy T2 và cháu Bùi Diễm H. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không cho ai vay nợ và cũng không nợ gì của ai nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh Bùi Văn T không có mặt tại địa phương, Toà án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ và tại biên bản ghi lời khai ngày 07/10/2025, ông Bùi Viết T1 là bố đẻ anh T trình bày: Anh T và chị N tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, được UBND xã X nay là xã X cấp giấy chứng nhận kết hôn. Nguyên nhân anh T và chị N mâu thuẫn là do anh T đi làm ăn xa còn mâu thuẫn khác ông không nắm được. Nay chị N có đơn xin ly hôn, anh T có trao đổi với ông T1 là đồng ý ly hôn với chị N để giải phóng cho nhau.
Về con chung: Anh T và chị N có 3 con chung là các cháu Bùi Thị Thúy Q, sinh ngày 30/9/2002, cháu Bùi Thùy T2, sinh ngày 09/10/2007, cháu Bùi Diễm H, sinh ngày 14/03/2012. Anh T có trao đổi lại với ông T1 là đối với cháu Bùi Thị Thúy Q đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết, đối với các cháu Bùi Thùy T2 và Bùi Diễm H anh T đồng ý để chị N nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã X:
- * Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị N đăng ký kết hôn với anh Bùi Văn T vào năm 2001 tại UBND xã X, nay là UBND xã X trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống. Quan điểm của địa phương là đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- * Về con chung: Chị Mai Thị N và anh Bùi Văn T có 03 con chung là cháu Bùi Thị Thúy Q, sinh ngày 30/9/2002, cháu Bùi Thùy T2, sinh ngày 09/10/2007, cháu Bùi Diễm H, sinh ngày 14/3/2012; hiện cháu Bùi Thị Thúy Q đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết, khi ly hôn chị N xin nuôi 2 cháu Bùi Thùy T2, sinh ngày 09/10/2007, cháu Bùi Diễm H, sinh ngày 14/3/2012; chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo đề nghị của các đương sự trên cơ sở quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các bên, cũng như đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho con chung.
- * Về tài sản, công nợ: Chị Mai Thị N không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng, quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự và người làm chứng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Về việc giải quyết vụ án, căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử ly hôn giữa chị N và anh T; giao con chung là cháu Bùi Diễm H, sinh ngày 14/3/2012 cho chị N nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Chị N phải nộp án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị N, anh T và ông T1 không có mặt tại phiên tòa, chấp hành theo quy định của pháp luật đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
[2] Về hôn nhân: Chị N và anh T kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn theo chị N là do anh T và chị bất đồng quan điểm sống nên chị N làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn; quan điểm của anh T thông qua sự trình bày của ông T1 là xác định tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị N xin ly hôn, anh T đồng ý ly hôn để giải phóng cho nhau. Nay chị N xác định không còn tình cảm với anh T và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh T đồng ý ly hôn để giải phóng cho nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh T mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Mai Thị N và anh Bùi Văn T theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị N và anh T có 03 con chung là cháu Bùi Thị Thúy Q, sinh ngày 30/9/2002; cháu Bùi Thùy T2, sinh ngày 09/10/2007, cháu Bùi Diễm H, sinh ngày 14/3/2012. Hiện nay cháu Bùi Thị Thúy Q và cháu Bùi Thùy T2 đều đã trưởng thành nên Toà án không xem xét giải quyết. Trong bản tự khai chị N có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con chung, anh T không phải phải cấp dưỡng nuôi con chung. Quan điểm của anh T xin nhường quyền nuôi con cho chị N nuôi dưỡng. Xét điều kiện hoàn cảnh thực tế của các đương sự do anh Bùi Văn T đang làm ăn xa, không có điều kiện chăm sóc con cái, bản thân cháu H cũng có đề nghị được chị N nuôi dưỡng nên để chị N trực tiếp nuôi con chung là cháu Bùi Diễm H, sinh ngày 14/3/2012 sẽ tốt hơn về mọi mặt cho con là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của các đương sự, chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung của chị N.
[4] Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Do các đương sự xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Mai Thị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Mai Thị N và anh Bùi Văn T.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Diễm H, sinh ngày 14/3/2012 cho chị Mai Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Bùi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, được quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Mai Thị N phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ đã nộp theo biên lai thu số 0001266 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thung |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 22/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị N và anh T kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn theo chị N là do anh T và chị bất đồng quan điểm sống nên chị N làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn; quan điểm của anh T thông qua sự trình bày của ông T là xác định tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị N xin ly hôn, anh T đồng ý ly hôn để giải phóng cho nhau. Nay chị N xác định không còn tình cảm với anh T và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh T đồng ý ly hôn để giải phóng cho nhau.
