|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21-11-2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Quang Vinh.
- Ông Phạm Văn Liệt.
- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Thanh Phong là Thư ký của HToà án nhân dân Khu vực 11 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở chính Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ X 1992.
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp
- Bị đơn: Anh Thái Văn V 1981.
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp
(Các đương sự có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Chị Nguyễn Thị L X1 và anh Thái V1 V1 kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/05/2019 tại UBND xã P (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp. Hôn nhân giữa anh chị được xây dựng trên cơ sở tự tìm hiểu.
Trong thời gian chung sống với nhau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, tính tình không hợp nhau, không hòa hợp trong cuộc sống, vợ chồng hay cãi vã. Anh V thiếu trách nhiệm lo gia đình và con cái, mọi việc trong gia đình do chị X2hết. Vợ chồng cố gắng tạo lập gia đình hạnh phúc nhưng không được. Hiện nay, mâu thuẫn kéo dài dẫn đến tình cảm vợ chồng trở nên phai nhạt, hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng không còn sống chung với nhau từ đầu năm 2024 đến nay, thời gian sống xa nhau không có hàn gắn tình cảm.
Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, mỗi người cần có cuộc sống riêng nên chị Nguyễn Thị L X1 yêu cầu ly hôn với anh Thái V1 V1.
Về con chung: Có 01 con chung tên Thái Ngọc T 16/10/2017. Hiện nay, con chung đang sống với chị X Chị Nguyễn Thị L X1 yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con tên Thái Ngọc T 16/10/2017 đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị L X1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Thái V1 V2bị đơn, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh V3vắng mặt không lý do, nên không thu thập được ý kiến của anh V
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Chị Nguyễn Thị L X1 yêu cầu được ly hôn với anh Thái Văn V3 và yêu cầu giải quyết về nuôi con nên đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[1.2] Bị đơn anh Thái V1 V1 cư trú tại ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đồng Tháp.
[1.3] Chị Nguyễn Thị L X3anh T V4đơn xin vắng mặt, do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là phù hợp theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa Chị X3anh V là hoàn toàn tự nguyện và anh, chị có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống anh, chị sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày, nhưng không tìm ra được cách hàn gắn lại tình cảm vợ chồng với nhau nên mâu thuẫn phát sinh ngày càng trầm trọng. Chị X và anh V đã ly thân từ năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Do đó, chị X yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh V.
Xét thấy, mâu thuẫn của anh, chị đã trầm trọng, không ai quan tâm đến ai, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X đối với anh V là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nuôi con: Xét thấy, từ khi ly thân đến nay, con chung do chị X nuôi sống ổn định, phát triển tốt, đồng thời ý kiến của con là được sống với chị X4đó, nên chấp nhận yêu cầu của chị X giao con chung cho chị X tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh V không cấp dưỡng nuôi con do chị X5yêu cầu và anh V5không tự nguyện.
Về chia tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ việc khác.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị đơn không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 56; 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L X1 đối với anh Thái Văn V3, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là UBND xã T giấy chứng nhận kết hôn (bản chính), số: 38 ngày 07 tháng 5 năm 2019, cho chị Nguyễn Thị L X1 ly hôn với anh Thái V1 V1.
Về nuôi con: Giao cháu Thái Ngọc T1, sinh ngày 16/10/2017, hiện đang sống với chị Nguyễn Thị L X1 cho chị X tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Thái V1 V1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị X5yêu cầu và anh V5không tự nguyện.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L X1 phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004373 ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Chị X đã nộp xong án phí.
Anh Thái V1 V1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Cương |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L X1 đối với anh Thái Văn V3, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là UBND xã T giấy chứng nhận kết hôn (bản chính), số: 38 ngày 07 tháng 5 năm 2019, cho chị Nguyễn Thị L X1 ly hôn với anh Thái V1 V1.
