Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10/02/2025

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến

Bà Nguyễn Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2024/TLST-HNGĐ về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 304/2024/QĐ-ST ngày 10/12/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10/01/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1988(có đơn xin vắng mặt)

HKTT: Tổ H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

Hiện đang sinh sống tại: Số F, đường X, huyện V, thành phố Đ, Đài Loan.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh D, sinh năm 1976 (vắng mặt)

HKTT: Tổ H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; địa chỉ: phố C, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện nguyên đơn là chị Nguyễn Thị M1 bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh D được tự do tìm hiểu, việc kết hôn trên cơ sở tình cảm đôi bên. Vợ chồng anh chị đã thực hiện việc đăng ký kết hôn ngày 29/09/2011 tại UBND phường N, thành phố B. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Tuy nhiên đến năm 2014, anh D đi Malaysia còn chị đi Đài Loan nên từ đó anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng xa cách, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh D.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 01/02/2012. Hiện nay cháu L đang được mẹ đẻ chị M là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965 chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trong thời gian chị ở nước ngoài. Ly hôn chị M đề nghị Toà án giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho mẹ đẻ chị chăm sóc, giáo dục đến khi chị về nước.

- Về tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Nguyễn Thanh D hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh D đến nay Tòa án không nhận được thông tin của anh D.

Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua mẹ đẻ của anh D là bà Lê Thị Thanh H, sinh năm 1950 có địa chỉ tại: số B X, tổ H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Bà H có ý kiến trình bày như sau: bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Thanh D, anh D hiện đang lao động tại nước ngoài nhiều năm nhưng vẫn liên hệ với gia đình. Địa chỉ của anh D ở nước ngoài bà không biết, không cung cấp được. Việc chị M khởi kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với anh D bà đã biết và đã thông báo tới anh D nhưng anh không trao đổi gì với bà, không có ý kiến gì.

* Tại biên bản ghi lời khai ngày 31/10/2024 với cháu Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 01/02/2012, cháu L trình bày như sau: Cháu là con của bố Nguyễn Thanh D và mẹ Nguyễn Thị M. Hiện cháu đang học lớp 7A8 Trường THCS M2, thị xã V. Cả bố và mẹ cháu đều đang đi nước ngoài nên hiện nay cháu đang ở với bà ngoại. Bố cháu đã đi nước ngoài nhiều năm không về còn mẹ vẫn thỉnh thoảng về nước thăm cháu. Cháu vẫn đang được mẹ và bà ngoại chăm sóc đầy đủ về vật chất, kinh tế và điều kiện học tập. Nếu bố mẹ cháu không ở với nhau nữa thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Do mẹ cháu đang ở nước ngoài nên cháu đồng ý ở với bà ngoại.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T trình bày: Cháu L hiện đang sinh sống cùng bà trong thời gian con gái bà đang ở nước ngoài. Bà đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L thay chị M trong thời gian chị M đi lao động tại nước ngoài.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt và giữ nguyên ý kiến, bị đơn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Thanh D.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 01/02/2012 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm giao cháu L cho bà Nguyễn Thị T chăm sóc trong thời gian chị M ở nước ngoài. Anh D có quyền thăm nom con, không ai được cản trở.

Về tài sản chung, công nợ chung: chị M không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị M có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung đối với anh Nguyễn Thanh D. Bị đơn anh Nguyễn Thanh D có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 25797/QLXNC-P3 ngày 30/10/2024 của Cục Q thì anh D đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 04/08/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn anh Nguyễn Thanh D được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Thanh D kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 29/09/2011 tại UBND phường N, thành phố B nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng xa cách. Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh D. Xem xét đơn khởi kiện của chị M, HĐXX thấy: Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không hòa hợp được. Anh D đi nước ngoài từ năm 2014, vợ chồng xa cách, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị M được ly hôn với anh D.

[4]. Về nuôi con chung: Cháu Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 01/02/2012 hiện đang ở cùng bà ngoại trong thời gian mẹ đi nước ngoài. HĐXX xét thấy anh D hiện đang sinh sống và lao động tại nước ngoài không có mặt tại địa phương, không sống cùng con chung, không thường xuyên về thăm con nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sẽ gặp nhiều hạn chế. Chị M tuy đi lao động tại Đài Loan nhưng vẫn có về nước thăm con, ngoài ra chị còn có mẹ đẻ là bà T hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái. Cháu L cũng có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu L cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị T chăm sóc đến khi chị M về nước. Về cấp dưỡng nuôi con chung, không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5]. Về tài sản chung, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000153 ngày 30/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị M đã nộp án phí dân sự sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Thanh D.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 01/02/2012 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm giao cháu L cho bà Nguyễn Thị T chăm sóc trong thời gian chị M ở nước ngoài. Anh D có quyền thăm nom con, không ai được cản trở.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000153 ngày 30/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị M đã nộp án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về tài sản chung, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về quyền kháng cáo:

- Đương sự hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

- Đương sự cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp Cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND phường Ngô Quyền, TP Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trung Thông

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp Cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND phường Ngô Quyền, TP Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trung Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị M ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với anh Nguyễn Thanh D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger