|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 20-6-2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuyệt
Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Vương Khả Nhật Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 429/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nông Thị Hương L, sinh năm 1982; địa chỉ: Hẻm B L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1983; địa chỉ: Hẻm B L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/8/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nông Thị Hương L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Văn H sau thời gian tự nguyện tìm hiểu, đến ngày 02/3/2005 đã đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố B, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Hẻm B L, xã L, thành phố B. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn nhưng chưa nghiêm trọng, chỉ những năm gần đây mâu thuẫn mới trở nên trầm trọng. Nguyên nhân là do ông H không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn phát triển kinh tế, chăm sóc vợ con mà thường bỏ nhà tụ tập đi chơi. Nhiều lần bà đã khuyên bảo nhưng ông H không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng không giải quyết được. Hiện nay, vợ chồng bà đã ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Văn H.
Về con chung: Vợ chồng bà có 03 người con chung là cháu Lê Duy T, sinh ngày 08/01/2006; cháu Lê Hoàng T1, sinh ngày: 15/8/2008 và cháu Lê Tấn D, sinh ngày 01/9/2016. Nếu được ly hôn thì bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu T1 và cháu D đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu T đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng bà không có nợ chung.
Bị đơn ông Lê Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để biết và đến Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với vụ án cho Tòa án. Mặt khác, nguyên đơn bà L có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Nông Thị Hương L vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn ông Lê Văn H vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán còn vi phạm trong việc gửi văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát. Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật; riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về hôn nhân: Cho bà L được ly hôn với ông H.
- Về con chung: Giao cháu Lê Hoàng T1 và Lê Tấn D cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi, vấn đề cấp dưỡng nuôi con do không yêu cầu nên không đề cập đến.
- Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.
- Về nợ chung: Các bên không có nợ chung nên không xem xét đến.
- Về án phí: Bà L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nông Thị Hương L khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc giải quyết được ly hôn với ông Lê Văn H; bị đơn ông H có địa chỉ cư trú tại xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, Tòa án xác định đây là tranh chấp về “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Phiên tòa ngày 30 tháng 5 năm 2025, nguyên đơn bà L vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt; bị đơn ông H đã được triệu tập hợp lệ theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà L vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt; bị đơn ông H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nông Thị Hương L và ông Lê Văn H đã được UBND xã L, thành phố B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 45 ngày 02/3/2005, việc kết hôn là tự nguyện, thời điểm đăng ký cả hai đều đủ điều kiện kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà L với ông H là hợp pháp.
Theo bà L, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn nhưng chưa nghiêm trọng, chỉ những năm gần đây mâu thuẫn mới trở nên trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn phát triển kinh tế, chăm sóc vợ con mà thường bỏ nhà tụ tập đi chơi. Nhiều lần bà đã khuyên bảo nhưng ông H không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng không giải quyết được. Vì vậy, vợ chồng bà đã ly thân, không còn quan tâm đến nhau.
Còn ông Lê Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để biết và đến Tòa án tham gia các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến đối với vụ án. Như vậy, thể hiện sự bỏ mặc, không muốn hàn gắn mâu thuẫn, không còn thiết tha tình cảm vợ chồng.
Mặt khác, Tòa án đã tiến hành xác minh ông Nguyễn Thanh T2 (là Trưởng thôn T, xã L) thì ông T2 cho biết: “Ông H và bà L kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, cụ thể như thế nào thì trưởng thôn không rõ nhưng chỉ nghe chị L kể lại vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tôn trọng nhau, mâu thuẫn về cách làm ăn kinh tế; đi làm không mang tiền về để chăm lo cho vợ con, một mình bà L chăm sóc con cái... về việc ly hôn giữa ông H và bà L tổ trưởng có gọi điện khuyên bảo với ông H nhưng không được, ông H không nhận bất cứ giấy tờ gì của Tòa án, không có thời gian ra Tòa để giải quyết ly hôn...Hiện nay ông H và bà L vẫn ở địa chỉ số nhà B L, xã L, thành phố B”.
Ngoài ra, bà Nguyễn Thanh T3 (là hàng xóm của ông H, bà L) cũng cho biết: “Tôi biết vợ chồng ông H, bà L có 03 người con chung, bà L là người lo cho con ăn học và chăm sóc các con, còn ông H suốt ngày ăn chơi, không làm gì lo cho vợ con”.
Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông H là có xảy ra trên thực tế và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khó hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L, cho bà L được ly hôn với ông H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Bà L và ông H có 03 người con chung là cháu Lê Duy T, sinh ngày 08/01/2006; cháu Lê Hoàng T1, sinh ngày: 15/8/2008 và cháu Lê Tấn D, sinh ngày 01/9/2016 (Hiện nay đều ở với bà L). Bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu T1 và cháu D đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con. Còn ông H không thể hiện ý kiến có muốn nuôi con hay không.
Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Trong khi cháu Lê Hoàng T1 và Lê Tấn D đến nay chưa đủ 18 tuổi nhưng đã trên 7 tuổi, đều thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ.
Mặt khác, qua xác minh thì được biết ông H không có trách nhiệm với gia đình, con cái; việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con đều do bà L thực hiện.
Do đó, cần giao cháu T1 và cháu D cho bà L được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho các cháu. Đối với cháu Lê Duy T hiện đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con bà L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[2.3] Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn ông H không thể hiện ý kiến về tài sản chung. Vì vậy, không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Bà L xác định vợ chồng không có nợ chung; còn ông H không thể hiện ý kiến về nợ chung. Vì vậy, không xem xét giải quyết, trường hợp sau này có tranh chấp thì được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về án phí: Buộc nguyên đơn bà L phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bị đơn ông H không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 175, 177, 179, 205, 207, 220, 227, 228, 262 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 18, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nông Thị Hương L đối với bị đơn ông Lê Văn H.
- Về con chung: Giao cháu Lê Hoàng T1, sinh ngày: 15/8/2008 và cháu Lê Tấn D, sinh ngày 01/9/2016 (Hiện đang do bà L nuôi dưỡng) cho bà Nông Thị Hương L tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con bà L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
- Về án phí: Buộc bà Nông Thị Hương L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ đã nộp theo biên lai thu số 0006149 ngày 02/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (bà L đã nộp đủ). Ông Lê Văn H không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án, các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Cho bà Nông Thị Hương L được ly hôn với ông Lê Văn H.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ninh Khắc Phong |
Bản án số 32/2025/HNGĐ - ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nông Thị Hương L ly hôn ông Lê Văn H
