Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18/3/2025

“V/v Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hồng Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Tư

Bà Nguyễn Thị Lý

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 820/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kiều Ngọc T, sinh năm: 1990
  • Nơi thường trú: Số 26/4 Đ, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
  • Địa chỉ liên hệ: Tổ 6 P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Mai Thanh L, sinh năm: 1988
  • Nơi thường trú: Số 26/4 Đ, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 26/8/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Kiều Ngọc T trình bày:

Bà và ông Mai Thanh L kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, vợ chồng đăng ký kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 108 ngày 23/9/2013. Trong thời gian chung sống, vợ chồng bà xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Mỗi lần như vậy ông L lại chửi bới, đập phá đồ đạc trong nhà, thậm chí đánh bà và đỉnh điểm là bỏ đi nhiều ngày, không liên lạc về gia đình. Bà đã nhiều lần khuyên can vì muốn gia đình hàn gắn, vợ chồng cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng ông L vẫn không thay đổi. Nay mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông L.

Về con chung: Vợ chồng bà có một con chung là Mai Gia H, sinh ngày: 14/7/2015. Ly hôn bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 25/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Mai Thanh L trình bày: Ông và bà Nguyễn Kiều Ngọc T tự nguyện kết hôn vào năm 2013. Ông thừa nhận thời gian đầu khi vợ chồng mâu thuẫn kình cãi, ông không kiềm chế được cảm xúc và có đánh vợ, đập phá đồ đạc trong nhà và bỏ đi vài ngày, tuy nhiên số lần ông đánh vợ rất ít. Ông rất hối hận về hành vi của mình, mong bà T cho ông cơ hội được thay đổi, sửa chữa lỗi lầm. Hiện nay ông vẫn còn tình cảm với bà T, ông muốn vợ chồng cùng hàn gắn nuôi dạy con cái nên bà T yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Nếu ly hôn, ông đồng ý giao con chung Mai Gia H, sinh ngày: 14/7/2015 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Vợ chồng ông tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Kiều Ngọc T được ly hôn ông Mai Thanh L. Về con chung, đề nghị giao cháu Mai Gia H, sinh ngày: 14/7/2015 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung, bà T và ông L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về án phí, bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:

    Bà Nguyễn Kiều Ngọc T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc ly hôn với ông Mai Thanh L. Ông L có địa chỉ cư trú tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. [2] Về quan hệ hôn nhân:

    Bà Nguyễn Kiều Ngọc T và ông Mai Thanh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N cấp Giấy chứng nhận kết hôn 108, quyển số 02/2013, ngày 23/9/2013 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

    Qua lời trình bày của bà Nguyễn Kiều Ngọc T và ông Mai Thanh L, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà T và ông L đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Mỗi lần mâu thuẫn, ông L lại không kiềm chế được cảm xúc, đập phá đồ đạc trong nhà rồi bỏ đi nhiều ngày, không liên lạc về gia đình, có lần ông L còn đánh bà T. Bà T đã nhiều lần khuyên nhủ và cho ông L cơ hội nhưng ông L vẫn không thay đổi dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Ông L không đồng ý ly hôn vì ông vẫn còn tình cảm với bà T và muốn vợ chồng cùng hàn gắn nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, từ tháng 10/2024 đến nay, bà T và ông L không còn sống chung với nhau nữa, những lần liên lạc với nhau cũng chỉ vì con. Bà T xác định bà không còn tình cảm với ông L nữa nên yêu cầu ly hôn với ông L. Như vậy, giữa bà T và ông L không tìm được tiếng nói chung, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị ly hôn của bà T là chính đáng, có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

  3. [3] Về con chung:

    Bà Nguyễn Kiều Ngọc T và ông Mai Thanh L có một con chung là Mai Gia H, sinh ngày: 14/7/2015. Bà T và ông L đều thống nhất giao cháu H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu H vẫn còn nhỏ và hiện nay bà T là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu H. Do đó, cần tiếp tục giao cháu H cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, nhằm đảm bảo cho cháu H có cuộc sống ổn định và phát triển tốt nhất cho tâm sinh lý của trẻ em.

  4. [4] Về cấp dưỡng:

    Bà Nguyễn Kiều Ngọc T không yêu cầu ông Mai Thanh L cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  5. [5] Về tài sản chung và nợ chung:

    Bà Nguyễn Kiều Ngọc T và ông Mai Thanh L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  6. [6] Về án phí:

    Bà Nguyễn Kiều Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Kiều Ngọc T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Kiều Ngọc T được ly hôn ông Mai Thanh L.
  2. Về con chung: Giao cháu Mai Gia H, sinh ngày: 14/7/2015 cho bà Nguyễn Kiều Ngọc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành.

    Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Đồng thời, có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.

  3. Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Kiều Ngọc T không yêu cầu ông Mai Thanh L cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

    Vì lợi ích của con chung, nếu xét thấy cần thiết bà T và ông L đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Kiều Ngọc T và ông Mai Thanh L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: Bà Nguyễn Kiều Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00002945 ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà T đã nộp đủ án phí.
  6. Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thành phố Nha Trang;
  • - Chi cục THADS thành phố Nha Trang;
  • - UBND phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang (Giấy chứng nhận kết hôn số 108, quyển số 02/2013, ngày 23/9/2013);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Hồng Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger