Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 32/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 16 - 06 – 2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Viết Chiến
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dương
  • 2. Ông Lê Thế Hải
  • Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Trung – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 90/2025/ TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/HNGĐ - ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 27/2025/QÐST – HNGĐ ngày 29/5/2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Dương Thị V, sinh năm 1989
  • Bị đơn: Anh Lê Văn P, sinh năm 1985
  • Cùng địa chỉ: TDP V, phường N, thị xã N, Thanh Hóa

Tại phiên toà các đương sự đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Dương Thị V trình bày:

  • - Về hôn nhân: Chị và anh P kết hôn vào năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã N, huyện T (nay là phường N, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa ngày 11 tháng 4 năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, bên cạnh đó do anh P hay uống rượu và thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình với chị, mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình nội, ngoại động viên khuyên bảo nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thể hàn gắn được, hiện nay hai vợ chồng vẫn sống cùng nhà nhưng không còn quan tâm đến nhau nữa, ai lo bổn phận người đó. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lê Văn P.
  • - Về con chung: Chị V trình bày chị và anh P có 02 con chung là cháu: Lê Dương Gia H, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2013 và cháu Lê Dương Gia H1, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2014. Ly hôn nguyện vọng của chị muốn xin được nuôi cả 02 cháu. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị đề nghị anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu một tháng là 1.500.000₫ (một triệu năm trăm nghìn đồng) 02 cháu mỗi tháng là 3.000.000₫ (ba triệu đồng).
  • - Về tài sản và công nợ: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Văn P trình bày:

  • - Về hôn nhân: Tại bản tự khai ngày 23/4/2025 anh P trình bày. Về thời gian và điều kiện kết hôn như chị V trình bày là đúng, nguyên nhân mâu thuẫn do anh thỉnh thoảng có uống rượu nhưng vợ chồng không có mâu thuẫn gì nay chị V có đơn khởi kiện xin ly hôn, anh xét thấy tình cảm dành cho chị V vẫn còn nên anh không đồng ý ly hôn.
  • - Về con chung : Nguyện vọng của anh muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nuôi dạy con, nhưng nếu chị V nhất quyết xin ly hôn và được Toà án giải quyết cho ly hôn anh muốn xin nuôi cả 02 con và đề nghị chị V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng mỗi cháu là 1.000.000đ (Một triệu đồng) và 02 cháu mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).

Tại biên bản hoà giải ngày 12/5/2025 về hôn nhân anh P giữ nguyên quan điểm không đồng ý ly hôn, về con chung nếu chị V nhất quyết xin ly hôn và được Toà án giải quyết cho ly hôn, anh đồng giao cả 02 cháu cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng và anh đồng ý với yêu cầu cấp dưỡng của chị V. Tại phiên toà anh P vẫn giữ nguyên quan điểm không đồng ý ly hôn, về con chung anh đề nghị nếu chị V nhất quyết xin ly hôn và được Toà án giải quyết cho ly hôn nguyện vọng của anh muốn xin được nuôi cháu H và anh không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung.

  • - Về tài sản và công nợ: Anh P không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản xác minh đối với tổ trưởng tổ dân phố V, phường N nơi vợ chồng chị V và anh P sinh sống, đại diện tổ dân phố cho biết chị V và anh P đều có hộ khẩu và sinh sống tại tổ dân phố V, phường N. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh P thường xuyên uống rượu và có hành vi bạo lực gia đình trong thời gian dài với chị V, chị V đã nhiều lần báo cáo tổ dân phố và Công an phường đến làm việc và lập biên bản nhưng anh P vẫn không thay đổi. Về con chung vợ chồng chị V, anh P có 02 con chung là cháu H và cháu H1 hiện nay các cháu đang đi học và sinh sống tại tổ dân phố V, phường N, thị xã N.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • - Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ vào các Điều 51,56,81,82, 83, 107 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình.
  • + Về hôn nhân: Xử cho chị Dương Thị V được ly hôn với anh Lê Văn P.
  • + Về con chung: Giao cháu Lê Dương Gia H – Sinh ngày 13 tháng 01 năm 2013 và cháu Lê Dương Gia H1, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2014 cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (phù hợp với nguyện vọng của các cháu muốn ở với mẹ). Về cấp dưỡng nuôi con chung anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho cùng chị V mỗi cháu một tháng là 1.500.000₫ (một triệu năm trăm nghìn đồng) 02 cháu mỗi tháng là 3.000.000₫ (ba triệu đồng).

Anh P được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được phép ngăn cản.

  • + Về tài sản và công nợ: Chị V và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • + Về án phí: Chị V phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm. Anh phú phải chịu án phí cấp dưỡng định kỳ nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và sau khi nghe ý kiến về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Chị V yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa chị và anh P, anh P cư trú tại phường N, thị xã N, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
  2. Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh P: Chị V và anh P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T (nay là phường N,thị xã N), tỉnhThanh Hóa nên đây là hôn nhân hợp pháp.

    Về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng: Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, bên cạnh đó anh P thường xuyên uống rượu và có hành vi bạo lực gia đình đối với chị V nhiều lần, hiện nay chị V và anh P sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa, ai lo bổn phận người đó. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh P mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nay chị V kiên quyết xin ly hôn, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị V.

  3. Về con chung: Chị V và anh P có 02 con chung là cháu: Lê Dương Gia H – Sinh ngày 13 tháng 01 năm 2013 và cháu Lê Dương Gia H1, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy chị V và anh P đều là lao động phổ thông có khả năng để nuôi con. Việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng con. Hội đồng xét xử căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và hướng tới tương lai tốt đẹp của con. Các quyền lợi đó là: điều kiện học tập, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và nguyện vọng của các con, tuy nhiên bản thân anh P thường xuyên uống rượu và tại phiên toà anh P trình bày anh lái xe đường dài mấy ngày mới về nhà nên việc giao con cho anh P không đảm bảo việc chăm sóc cho các cháu, ảnh hưởng không tốt đến tâm sinh lý của các cháu. Toà án tiến hành ghi ý kiến của 02 cháu nguyện vọng của các cháu muốn ở với mẹ nên giao 02 cháu cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị V là phù hợp và đúng theo quy định của Pháp luật.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V phải nuôi 02 cháu nên anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi chung cùng chị V mỗi tháng 01 cháu là 1.500.000₫ (một triệu năm trăm nghìn đồng) 02 cháu mỗi tháng là 3.000.000₫ (ba triệu đồng).

    Anh P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không được cản trở nhau thực hiện quyền này.

  4. Về tài sản và công nợ: Chị V và anh P không đề nghị toà án giải quyết, nên không xem xét.
  5. Về án phí: Chị V khởi kiện vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, nên phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
  6. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp và có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57; 81; 82; 83, 107 và Điều 110 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; 227; 228; 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Dương Thị V được ly hôn với anh Lê Văn P;
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Dương Gia H – Sinh ngày 13 tháng 01 năm 2013 và cháu Lê Dương Gia H1, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2014, cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu một tháng là 1.500.000₫ (một triệu năm trăm nghìn đồng) 02 cháu mỗi tháng là 3.000.000₫ (ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung kể từ tháng 07/2025 đến khi các cháu trưởng thành.

    Anh P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không được cản trở nhau thực hiện quyền này.

  3. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản.
  4. Án phí: Chị V phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm: 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ theo biên lai số 0005994 ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn. Anh P phải chịu 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí cấp dưỡng định kỳ nuôi con chung.
  5. Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND phường Nguyên Bình;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Viết Chiến

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Dương

Phạm Viết Chiến

Lê Thế Hải

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND phường Nguyên Bình;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Viết Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ - ST ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Về hôn nhân: Chị và anh Phú kết hôn vào năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn Uỷ ban nhân dân xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia (nay là phường Nguyên Bình, thị xã Nghi Sơn), tỉnh Thanh Hóa ngày 11 tháng 4 năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, bên cạnh đó do anh Phú hay uống rượu và thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình với chị, mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình nội, ngoại động viên khuyên bảo nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thể hàn gắn được, hiện nay hai vợ chồng vẫn sống cùng nhà nhưng không còn quan tâm đến nhau nữa, ai lo bổn phận người đó. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt đ¬ược nên đề nghị tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lê Văn Phú. - Về con chung: Chị Vân trình bày chị và anh Phú có 02 con chung là cháu: Lê Dương Gia Huy, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2013 và cháu Lê Dương Gia Hiếu, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2014. Ly hôn nguyện vọng của chị muốn xin được nuôi cả 02 cháu. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị đề nghị anh Phú có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu một tháng là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) 02 cháu mỗi tháng là 3.000.000đ (ba triệu đồng). - Về tài sản và công nợ: Chị Vân không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger