|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST
Ngày 13 – 6 – 2025
V/v “Ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Giới Ông Vũ Trung Thành
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước: Đỗ Thị Hường – Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 69/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/5/2025, giữa:
*Nguyên đơn: Phạm Văn Đ, sinh năm 1993; Trú tại: Số A, thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
*Bị đơn: Bùi Thị Kiều L, sinh năm 1999; Trú tại: Đ, ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn anh Phạm Văn Đ trình bày:
Về hôn nhân: anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị Kiều L kết hôn với nhau tự nguyện vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên theo giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 20/11/2019.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn xảy ra, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không tin tưởng nhau. Từ ngày 06/01/2020, chị L xin về nhà ngoại ở Đ, ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước ăn tết và không trở về chung sống cùng anh Đ nữa mặc dù anh Đ cũng nhiều lần liên hệ để chị L về nhưng chị L không đồng ý. Vợ chồng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Bùi Thị Kiều L.
Về con chung: Quá trình chung sống có chung 01 con tên là Phạm Thị Thùy D, sinh năm 2020; anh Đ tôn trọng ý kiến của con, nếu con đồng ý ở với ai thì người đó nuôi con.
Về cấp dưỡng: anh Đ đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.
* Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bị đơn Bùi Thị Kiều L trình bày:
Về hôn nhân: Chị L và anh Phạm Văn Đ kết hôn với nhau tự nguyện vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên theo giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 20/11/2019.
Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, sau khi cưới xong, chị L sống ở nhà anh Đ (xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên) được 06 tháng thì xin về nhà mẹ đẻ để sinh con, sau đó vợ chông liên tục xảy ra mâu thuẫn nên chị L ở nhà mẹ đẻ (ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước) sinh con và sinh sống, làm ăn từ đầu năm 2020 cho đến nay. Anh Đ không quan tâm và cũng không biết con lớn lên như thế nào. Chị L xác định tình cảm vợ chồng cũng đã hết nên trước yêu cầu ly hôn của anh Phạm Văn Đ thì chị L cũng đồng ý.
Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung là Phạm Thị Thùy D, sinh ngày 06/4/2020; chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con từ lúc con sinh ra cho đến khi con đủ 18 tuổi, mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Về tài sản chung và các vấn đề khác: không yêu cầu giải quyết; Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng và đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (TTDS); nguyên đơn thực hiện đúng, đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện đúng, đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Văn Đ. Giao con chung là cháu Phạm Thị Thùy D, sinh ngày 06/4/2020 cho chị Bùi Thị Kiều L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; anh Phạm Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực cho đến khi cháu D trưởng thành đủ 18 tuổi.
Không xem xét giải quyết về tài sản chung, nợ chung do các đương sự không yêu cầu.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn anh Phạm Văn Đ yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn, nuôi con với chị Bùi Thị Kiều L; Về tài sản chung và các vấn đề khác không yêu cầu. Vì vậy, đây là vụ án "Ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con" được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn Bùi Thị Kiều L, cư trú tại: Đ, ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho nguyên đơn và bị đơn nhưng cả hai đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét cần áp dụng Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh Đ và chị L là phù hợp.
3. Yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị Kiều L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên theo giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 20/11/2019. Đây là hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành. Anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị Kiều L đều thừa nhận sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với nhau được 06 tháng thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, từ tháng 01/2020, chị Bùi Thị Kiều L đã về bên nhà bố mẹ đẻ ở ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân nhau mỗi người một nơi từ đó cho đến nay, không còn sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau. Cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn nên cần ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Đ và chị L, tuyên xử cho anh Phạm Văn Đ được ly hôn với chị Bùi Thị Kiều L là phù hợp.
Về con chung: Quá trình chung sống anh Đ và chị L có chung 01 con tên là Phạm Thị Thùy D, sinh ngày 06/4/2020. Anh Đ tôn trọng ý kiến của con nếu con đồng ý sống cùng bố hoặc mẹ; chị L có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Xét thấy, cả hai đều có nguyện vọng được nuôi con, tuy nhiên theo quy định tại điều 81 Luật hôn nhân gia đình “... nếu con đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con...” do cháu D hiện tại mới đủ 05 tuổi nên không thuộc trường hợp xem xét nguyện vọng của con; cháu D lại là con gái và từ khi sinh ra cháu ở với chị L nên cần căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Phạm Thị Thùy D cho chị Bùi Thị Kiều L trực tiếp chăm sóc giáo dục con là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị L yêu cầu anh Phạm Văn Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng từ khi cháu Dương S ra cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Đ đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng nhưng chỉ đồng ý cấp dưỡng từ khi bản án ly hôn có hiệu lực cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Xét việc nuôi con là quyền đồng thời là nghĩa vụ của người cha và người mẹ. Ngoài yêu cầu ra chị L cũng không có căn cứ chứng minh trong thời gian sinh con anh Đ không có trách nhiệm với con chung do đó không có cơ sở để buộc anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con từ khi cháu D được sinh ra vì thời gian này vẫn đang trong thời kỳ hôn nhân giữa hai người còn tồn tại. Do vậy căn cứ vào Điều 82 Luật hôn nhân gia đình, ghi nhân sự tự nguyện của anh Đ về cấp dưỡng nuôi cháu D mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này. Trong thời gian nuôi con, các bên có quyền đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết việc cấp dưỡng hoặc việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: không có và không yêu cầu nên không xem xét.
4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Các bên phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các điều 51, 56, 81, 82, 83, 110 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Tuyên xử cho anh Phạm Văn Đ được ly hôn với chị Bùi Thị Kiều L.
2. Về con chung: Giao con chung là Phạm Thị Thùy D, sinh ngày 06/4/2020 cho chị Bùi Thị Kiều L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: anh Phạm Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến con khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này. Trong thời gian nuôi con, các bên có quyền đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết việc cấp dưỡng hoặc việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng; án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng, nguyên đơn anh Phạm Văn Đ phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0010970 ngày 13/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, số tiền còn lại anh Đ phải nộp.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án tống đạt theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu ly hôn, giao con cho bị đơn nuôi, nguyên đơn cấp dưỡng
