|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12-6-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Dưỡng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Thành Nam;
- Bà Lương Thị Anh Đào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Định – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23 tháng 5 năm 2025 và ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Lê Việt A, sinh năm 1991.
- Địa chỉ: 2 T, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- - Bị đơn: Đoàn Văn Đ, sinh năm 1999.
- Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị A có đơn xin vắng mặt, anh Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo lời trình bày của nguyên đơn Lê Việt A: Chị A và anh Đ yêu thương nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B vào ngày 17-11-2023. Trong quan hệ hôn nhân chị A và anh Đ có 01 con chung tên Đoàn Lê Bảo N, sinh ngày 13-5-2024, (cháu N hiện đang sống với chị A). Chị A và anh Đồng S với nhau thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau này thì vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Đ không chịu đi làm để có thu nhập lo cho gia đình mà cứ xin tiền ba mẹ dù chị A đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Đ không thay đổi mà còn đánh chị A nên chị A dần không còn tình cảm với anh Đ. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, có sống chung lại cũng không hạnh phúc nên chị A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- - Về hôn nhân: Chị A yêu cầu được ly hôn với anh Đoàn Văn Đ vì tình cảm vợ chồng không còn.
- - Về con chung: Chị A yêu cầu được nuôi con chung Đoàn Lê Bảo N, sinh ngày 13-5-2024, (cháu N hiện đang sống với chị A), không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo lời trình bày của bị đơn Đoàn Văn Đ: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có gửi văn bản ý kiến cho Tòa án.
* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đều đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 9, 14, 51, 56, 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, chị Lê Việt A được ly hôn với anh Đoàn Văn Đ; Về con chung: Giao con chung tên Đoàn Lê Bảo N, sinh ngày 13-5-2024, (cháu N hiện đang sống với chị A) cho chị A được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, Về cấp dưỡng nuôi con: không ai yêu cầu hoặc tự nguyện cấp dưỡng nên không xem xét; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.
Không yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Lê Việt A vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, bị đơn Đoàn Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Lê Việt A và anh Đoàn Văn Đ sống chung có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B vào ngày 17-11-2023 nên hôn nhân của chị Lê Việt A và anh Đoàn Văn Đ là hợp pháp.
Chị Lê Việt A trình bày trong thời gian sống chung thì chị A và anh Đ bất đồng quan điểm sống và chị A có khuyên bảo anh Đ nhiều lần nhưng anh Đ không thay đổi mà còn đánh chị A nên chị A không còn tình cảm với anh Đ. Nay chị Lê Việt A khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Đoàn Văn Đ. Đồng thời sau khi thụ lý vụ án thì Tòa án đã 02 lần thông báo hòa giải đoàn tụ nhưng anh Đ không đến Tòa án để hòa giải, điều này thể hiện ý chí của anh Đ không muốn Tòa án hòa giải cho vợ chồng chị A và anh Đ đoàn tụ về sống chung lại, trong khi chị A thì cương quyết ly hôn với anh Đ.
Từ những phân tích trên, xét thấy quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị A và anh Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị A là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A.
[2.2] Về con chung: Chị A và anh Đ có 01 con chung tên Đoàn Lê Bảo N, sinh ngày 13-5-2024, (cháu N hiện đang sống với chị A). Nay ly hôn chị A yêu cầu được nuôi con chung Đoàn Lê Bảo N, sinh ngày 13-5-2024 (cháu N hiện đang sống với chị A). Anh Đ thì không có ý kiến về con chung và không có yêu cầu được nuôi dưỡng cháu M. Xét thấy cháu Đoàn Lê Bảo N, sinh ngày 13-5-2024 (cháu N hiện đang sống với chị A) hiện đang sống chung với chị A và hiện cháu N chưa đủ 03 tuổi nên nghĩ tiếp tục giao cháu N cho chị A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị A cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Đ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị A có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Đ.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị A không yêu cầu, anh Đ không có ý kiến nên không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị A không yêu cầu, anh Đ thì không có ý kiến nên không xem xét, giải quyết.
[3] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.”, vậy chị A phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0004912 ngày 06-01-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, chị A đã nộp đủ án phí. Anh Đ không phải chịu án phí.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 5, 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Lê Việt A.
- Về hôn nhân: Chị Lê Việt A được ly hôn với anh Đoàn Văn Đ.
- Về con chung: Giao con chung tên Đoàn Lê Bảo N, sinh ngày 13-5-2024 (cháu N hiện đang sống với chị A) cho chị Lê Việt A được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Đoàn Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Lê Việt A cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Đoàn Văn Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Đoàn Văn Đ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Lê Việt A có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Đoàn Văn Đ.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Việt A không yêu cầu cấp dưỡng, anh Đoàn Văn Đ không có ý kiến và yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Việt A không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Đoàn Văn Đ không có ý kiến và yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
- Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình:
Chị Lê Việt A phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0004912 ngày 06-01-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, chị A đã nộp đủ án phí.
Anh Đoàn Văn Đ không phải chịu án phí.
- Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại của Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Dưỡng |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị A yêu cầu ly hôn anh Đ
