Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST

Ngày 09-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn;
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thu và bà Ngô Thị Thúy.
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Vĩ Hạ, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Bà Hoàng Thị Lệ Xuân, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 76/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025, về “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXX ngày 24/3/2025, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1983; (có mặt)
  • Địa chỉ: Tổ A, phường T, TP ., tỉnh Thái Nguyên.
  • * Bị đơn: Anh Nguyễn Thế C, sinh năm 1969; (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ A, phường T, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn chị Vũ Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Thế Chung kết H năm 2004, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, cãi vã lẫn nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh C nghiện ma túy, không quan tâm đến vợ con. Chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị N xác định vợ chồng có một con chung tên là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 01/8/2005. Hiện nay cháu Đ đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thế C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại bản tự khai anh C trình bày, anh và chị N kết hôn năm 2004 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố T như trình bày của chị N là đúng. Sau khi kết hôn thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2025 xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Chị N đề nghị ly hôn anh C mong muốn vợ chồng hàn gắn để đoàn tụ gia đình, nếu chị N kiên quyết ly hôn anh C đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh C xác định vợ chồng có một con chung tên là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 01/8/2005. Con chung đã trên 18 tuổi, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên phát biểu ý kiến: Căn cứ vào Điều 21; Điều 262 Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền của mình theo Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự; Tuân thủ đúng quy định về trình tự, tố tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; về đường lối giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vũ Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Thế C; về con chung: Con chung đã trên 18 tuổi, không xem xét; về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét do các đương sự không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

  1. Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, xác định đây là vụ kiện về “ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại tổ A phường T, thành phố T, vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên theo quy định tại các Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ, nên việc xét xử có sự tham gia của Kiểm sát viên theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Nguyễn Thế C đã được Toà án triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt anh C.
  3. Về nội dung vụ án: Chị Vũ Thị N và anh Nguyễn Thế Chung kết H năm 2004, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, đây được coi là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Anh C có ý kiến mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng nếu chị N kiên quyết ly hôn anh C cũng nhất trí. Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự quay trở về đoàn tụ gia đình nhưng anh C không đến để tham gia các phiên hòa giải, không đưa ra được các căn cứ còn tình cảm yêu thương vợ, trong khi đó chị N kiên quyết xin được ly hôn. Như vậy, chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, để giải phóng cho các bên đương sự, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị N là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
  4. Về con chung: Chị N và anh C xác định có một con chung tên là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 01/8/2005. Hiện nay, cháu Đ đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  6. Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; 56; 58 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị N được ly hôn anh Nguyễn Thế C.
  2. Về con chung: Con chung đã trên 18 tuổi, Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Vũ Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000762 ngày 20/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị N có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thế C có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - UBND P. Tân Long, TPTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger