TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06-6-2025. V/v: “Tranh chấp về ly hôn” | NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được, ông Đỗ Văn Kha.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Chẩu Thị Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 1960; Địa chỉ nơi cư trú: ấp N, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt, có đơn xin vắng).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm: 1962; Địa chỉ nơi cư trú: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt, có đơn xin vắng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 12 năm 2024 và các bản lời khai nguyên đơn ông Nguyễn Văn P trình bày: Ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Cẩm H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1987, có làm đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng ông P chung sống hạnh phúc đến năm 2005 thì phát sinh rất nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Ông P và bà H đã ly thân từ năm 2005.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông P yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận ông P và bà H là vợ chồng.
Về con chung: Đã trưởng thành nên ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông P và bà H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản lời khai ngày 01 tháng 4 năm 2025, bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H trình bày: Bà H và ông P tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1987, có làm đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng bà H chung sống hạnh phúc đến năm 2005 thì phát sinh rất nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Bà H và ông P đã ly thân từ năm 2005 cho đến nay. Ông P yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận ông P và bà H là vợ chồng thì bà H đồng ý.
Về con chung: Đã trưởng thành nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Vụ án không có vi phạm về thủ tục tố tụng.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông P là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận ông P và bà H là vợ chồng. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà H có nơi cư trú tại khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài thụ lý, giải quyết là có căn cứ và đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt ông P, bà H. Ông P và bà H đã có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông P, bà H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1987, có làm đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Vợ chồng ông P chung sống hạnh phúc đến năm 2005 thì phát sinh rất nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Ông P và bà H đã ly thân từ năm 2005 cho đến nay. Theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.” Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông P và bà H là không hợp pháp.
Căn cứ khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình thì việc chung sống giữa ông P và bà H không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Căn cứ Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông P và bà H.
Từ những phân tích đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để nhận định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông P là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông P và bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài về nội dung vụ án là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 và Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì trường hợp của ông P được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 48, 227, 228, 147, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 8, 9, 14, 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P. Tuyên bố ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Cẩm H không phải là vợ chồng.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông P và bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị Cẩm H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Ngọc Linh |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn
