TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 05/6/2025
V/v " Ly hôn".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lưu Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thận
Ông Trần Đức Hoà
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng: bà Trịnh Thị Tâm, chức vụ Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý thụ lý số: 210/HNGĐ-ST, ngày 16 tháng 12 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 13/2025/QÐST - HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1981 ( có mặt)
Bị đơn: chị Bùi Kiều D, sinh năm 1986 ( vắng mặt)
Cùng cư trú tại: thôn F, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/7/2024 quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Đức H trình bày: Anh Trần Đức H1 và chị Bùi Kiều D tự nguyện chung sống từ năm 2005, tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên vào năm 2009, vì thủ tục phức tạp nên không thực hiện ngay thời điểm chung sống. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng xảy ra cãi vã, chị D bỏ nhà đi và vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 liên tục đến nay, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau, sống bỏ mặc nhau. Mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; hiện nay anh H1 thấy không còn tình cảm với chị D nên yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết cho anh H1 được ly hôn với chị D.
Về con chung: Có 03 con chung là các cháu Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 05/8/2006; cháu Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 02/01/2011; cháu Nguyễn Tiến Đ1, sinh ngày 21/6/2012. Tại phiên toà anh H1 có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Tiến Đ1 đến khi các cháu thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; đối với cháu Nguyễn Thị Kim A hiện nay đã thành niên nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng; trong thời gian sống ly thân anh H1 là người trực tiếp nuôi dưỡng các con.
Về tài sản, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn chị Bùi Kiều D: Chị D có đăng ký thường trú tại thôn F, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; tuy nhiên trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, chị D không có mặt tại địa phương; Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng và nhắn tin trên B, sóng truyền hình Việt Nam, cổng thông tin điện tử của Tòa án, yêu cầu chị D đến Toà án để làm việc nhưng chị D không đến, không cung cấp lời khai, không giao nộp bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì cho Toà án.
Các tài liệu, chứng cứ: Nguyên đơn nộp tài liệu, chứng cứ như trong hồ sơ vụ án; ngoài ra không giao nộp gì thêm. Bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ Điều 51, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về con chung giao cho anh H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Tiến Đ1 đến khi thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; đối với cháu Nguyễn Thị Kim A hiện nay đã thành niên nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Về tài sản, nợ không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của anh H1 và giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do anh H1 giao nộp hợp pháp tại Tòa án, xác định được anh Nguyễn Đức H và chị Bùi Kiều D tự nguyện kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Đức H và chị Bùi Kiều D là hợp pháp.
- Về con chung: Căn cứ vào lời khai của anh H và giấy khai sinh do anh H cung cấp xác định được giữa anh H và chị D có 03 con chung là các cháu Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 05/8/2006; cháu Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 02/01/2011; cháu Nguyễn Tiến Đ1, sinh ngày 21/6/2012. Sau khi ly hôn anh H có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Tiến Đ1 đến khi thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; đối với cháu Nguyễn Thị Kim A hiện nay đã thành niên nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng; trong thời gian sống ly thân anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng các con. Hội đồng xét xử thấy qua ý kiến của cháu Đ và cháu Đ1 đều có nguyện vọng được chung sống với bố, để các cháu tiếp tục ổn định cuộc sống, sinh hoạt lâu nay cần chấp nhận yêu cầu của anh H và ý kiến cháu Đ và cháu Đ1, giao cả hai cháu Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Tiến Đ1 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con anh H không yêu cầu nên không xem xét.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 131 của bộ Luật Tố tụng dân sự các đương sự phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Về mâu thuẫn gia đình: Theo lời khai của anh H cho rằng giữa anh H và chị D có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị D bỏ nhà đi và vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 liên tục đến nay, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau, sống bỏ mặc nhau, khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án anh H và con chung của anh H và chị D có liên lạc bằng điện thoại cho chị D nhưng chị D không về và không cung cấp thông tin nơi cư trú cho anh H; hiện nay anh H thấy không còn tình cảm với chị D và yêu cầu được ly hôn. Phía chị D bỏ đi khỏi địa phương, Tòa án đã tiến hành nhắn tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng chị D không đến Toà án nhân dân huyện Bù Đăng để làm việc, không thể hiện ý kiến, nguyện vọng của mình, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Căn cứ vào lời khai của người làm chứng xác định được giữa anh H và chị D có xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, sống ly thân kéo dài. Như vậy, có căn cứ xác định giữa anh H và chị D là có mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H.
Về quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Nguyễn Đức H được ly hôn với chị Bùi Kiều D.
- Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 02/01/2011; cháu Nguyễn Tiến Đ1, sinh ngày 21/6/2012 cho anh Nguyễn Đức H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; cháu Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 05/8/2006 hiện nay đã thành niên nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Chị Bùi Kiều D có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo qui định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Đức H nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0009521, ngày 16/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LƯU THÙY LINH |
Bản án số 32/2025/HNGĐ – ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN GIỮA NGUYỄN ĐỨC HOÀI VÀ BÙI KIỀU DIỄM
