Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST

Ngày 04-4-2025

V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Thêu

- Bà Hoàng Thị Len .

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hải Bằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 123/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1989

Đăng ký HKTT: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Địa chỉ: Số nhà B, khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Vũ Thị N: Luật sư Hồ Văn P và luật sư Nguyễn Phúc T - Công ty L, Đoàn Luật sư tỉnh P. Địa chỉ: Số D đường N, N, V, Phú Thọ.

- Bị đơn: Anh Bùi Văn T1, sinh năm 1985

Đăng ký HKTT: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

(Có mặt: Luật sư P; Chị N, anh T1 có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; Vắng mặt: Luật sư T)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn, Bản tự khai; Nguyên đơn - chị Vũ Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình ngày 18/12/2008. Thời gian đầu chị N và anh T1 chung sống hòa thuận hạnh phúc, sau đó cuộc sống vợ chồng chị không hợp nhau, mỗi người một quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng dần mâu thuẫn và ngày càng nghiêm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ lâu. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Văn T1.

- Về quan hệ con chung: Chị và anh Bùi Văn T1 có 03 con chung là cháu Bùi Yến N1, sinh ngày 21/9/2010; cháu Bùi Thị H, sinh ngày 27/6/2012 và cháu Bùi Hải Đ, sinh ngày 20/11/2017. Ly hôn, chị đề nghị giao cả 03 con chung là cháu Bùi Yến N1, cháu Bùi Thị H, và cháu Bùi Hải Đ cho anh Bùi Văn T1 nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.

- Về quan hệ tài sản: Chị và anh T1 không có tài sản chung, không có nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Chị đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt chị.

* Tại bản tự khai; Đơn xin giải quyết vắng mặt; Bị đơn - anh Bùi Văn T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn cũng như thời gian mâu thuẫn anh T1 khai phù hợp với lời khai như của chị N đã trình bày. Về nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian đầu chị N và anh T1 chung sống hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2022, chị N sang Đài Loan sinh sống và làm việc, thời gian đầu vợ chồng vẫn gọi điện thoại hỏi han, quan tâm nhau. Đến năm 2023, anh phát hiện chị N có quan hệ ngoại tình nên vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Nay chị N xin ly hôn anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn.

- Về quan hệ con chung: Anh T1 và chị Nguyễn Thị N2 có 03 con chung là cháu Bùi Yến N1, sinh ngày 21/9/2010; cháu Bùi Thị H, sinh ngày 27/6/2012 và cháu Bùi Hải Đ, sinh ngày 20/11/2017. Ly hôn anh đề nghị Tòa án giao 03 con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh yêu cầu chị N2 cấp dưỡng nuôi con là 2 triệu đồng/1 con/1 tháng đến khi các con đủ 18 tuổi.

- Về quan hệ tài sản: Anh và chị N2 không có tài sản chung, không có nợ chung. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.

Do bận công việc, anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình kết luận quá trình thực hiện tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị N được ly hôn anh Bùi Văn T1. Về quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Bùi Yến N1, sinh ngày 21/9/2010; cháu Bùi Thị H, sinh ngày 27/6/2012 và cháu Bùi Hải Đ, sinh ngày 20/11/2017 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng: Nguyên đơn chị Vũ Thị N ở nước ngoài (Đài Loan), căn cứ vào khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Chị N, anh T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ, áp dụng khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị N, anh T1.

* Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Vũ Thị N và anh Bùi Văn T1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình ngày 18/12/2008 được xác định là hôn nhân hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn. Lời khai của chị N và anh T1 đều thể hiện mâu thuẫn giữa chị N và anh T1 là có thật, đã kéo dài nhiều năm, tình cảm vợ chồng không còn, chị N xin ly hôn, anh T1 đồng ý. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa chị N và anh T1 không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị N và anh T1 ly hôn là phù hợp.

[2] Về con chung: Chị N và anh T1 có 03 con chung là cháu Bùi Yến N1, sinh ngày 21/9/2010; cháu Bùi Thị H, sinh ngày 27/6/2012 và cháu Bùi Hải Đ, sinh ngày 20/11/2017, hiện nay cả 03 con chung đang ở cùng anh T1. Ly hôn, chị N và anh T1 đều nhất trí giao con chung cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, các con chung đều có nguyện vọng ở với anh T1. Xét thấy, hiện nay chị N đang ở nước ngoài không trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đề nghị của chị N và anh T1 là tự nguyện và hợp pháp. Để đảm bảo quyền, lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao 03 con chung là cháu Bùi Yến N1, cháu Bùi Thị H và cháu Bùi Hải Đ cho anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Do anh T1, chị N không thỏa thuận được mức cấp dưỡng nuôi con, căn cứ Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2, 3 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và Gia đình quy định: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.”. Căn cứ Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động quy định huyện K thuộc vùng IV, lương tối thiểu theo tháng là 3.450.000 đồng, do đó chị N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không thấp hơn 1.725.000 đồng/1 con/tháng. Căn cứ nhu cầu thiết yếu của các con chung, anh T1 yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/con/tháng là đảm bảo quyền lợi của con chung và phù hợp quy định của pháp luật. Từ những căn cứ trên, chị N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/1 con/tháng, ba con là 6.000.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật là phù hợp.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh T1 không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không đặt ra giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Vũ Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84, 116 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị N được ly hôn anh Bùi Văn T1.

2. Về con chung: Giao cho anh Bùi Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung là cháu Bùi Yến N1, sinh ngày 21/9/2010; cháu Bùi Thị H, sinh ngày 27/6/2012 và cháu Bùi Hải Đ, sinh ngày 20/11/2017. Chị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 2

triệu đồng/1 con/1 tháng, 3 con là 6.000.000 đồng/tháng, tính từ tháng 4/2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Hai bên có quyền và nghĩa vụ chăm sóc con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Vũ Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, chuyển số tiền 300.000 đồng chị N nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0002174 ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí. Chị N còn phải nộp 300.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Vũ Thị N, anh Bùi Văn T1. Chị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, anh T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhân:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Chi Cục THADS huyện Kiến Xương;
  • - UBND xã Vũ Ninh, h.Kiến Xương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger