TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03 tháng 4 năm 2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Vượng.
- Ông Nguyễn Văn Tư.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 406/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXX-ST ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1985;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1985;
Nơi thường trú: Xóm E, thôn Y, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.
Nơi ở hiện nay: Số H, ngõ E, đường L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
(Chị T xin vắng mặt)
Nơi thường trú: Tổ dân phố P, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Anh S xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn S kết hôn ngày 28/02/2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S (nay là phường S), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn vì không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi cọ, có nhiều bất đồng quan điểm. Anh S nhiều lần đánh đập chị. Chị và anh S đã ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
Về con chung: Chị và anh S có 1 con chung là Nguyễn Tuấn H-sinh ngày 18/09/2008. Hiện nay con chung đang ở cùng chị. Sau khi ly hôn, chị đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị đang làm công việc tự do, thu nhập đủ điều kiện nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị và anh S không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn S trình bày:
Anh và chị Trần Thị T kết hôn ngày 28/02/2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S (nay là phường S), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn vì không hợp nhau, bất đồng quan điểm. Anh và chị T đã ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T đề nghị Tòa án cho ly hôn thì quan điểm của anh là đồng ý.
Về con chung: Anh và chị T có 1 con chung là Nguyễn Tuấn H-sinh ngày 18/09/2008. Hiện nay con chung đang ở cùng chị T. Sau khi ly hôn, anh đồng ý chị T được nuôi con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh và chị T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập một số tài liệu, chứng cứ.
- Tại Biên bản xác minh ngày 19/3/2025, tổ trưởng tổ dân phố P, phường S, thành phố B cung cấp: Quá trình chung sống tại địa phương, vợ chồng chị T, anh S có xảy ra mâu thuẫn gì thì địa phương không rõ nhưng anh S và chị T đã ly thân từ năm 2010 đến nay, không ai quan tâm tới ai. Anh S và chị T có 01 con chung, hiện đang sinh sống cùng chị T.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/02/2025, cháu Nguyễn Tuấn H-sinh ngày 18/09/2008 trình bày: Hiện nay cháu đang học lớp 11D7 trường THPT N1, thành phố Hà Nội. Bố mẹ cháu đã ly thân hơn 10 năm nay, một mình mẹ cháu nuôi dưỡng cháu. Trường hợp bố mẹ cháu ly hôn, cháu xin ở với mẹ Trần Thị T.
*Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được vì bị đơn anh S vắng mặt.
*Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều xin vắng mặt, giữ nguyên quan điểm trong hồ sơ vụ án.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử:
- + Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
- + Về con chung: Giao chị Trần Thị Thu N con chung Nguyễn Tuấn H-sinh ngày 18/09/2008. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
- + Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- + Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Nguyễn Văn S cư trú tại xã S (nay là phường S), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền, đảm bảo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị T và bị đơn anh S đều xin vắng mặt. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh S kết hôn ngày 28/02/2008 trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Tại thời điểm kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cần xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị T và anh S có mâu thuẫn, đã ly thân từ năm 2010 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải nhưng anh S vắng mặt, chị T cương quyết ly hôn chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị T và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị T về việc ly hôn anh S theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung:
[4.1] Chị T và anh S có một con chung Nguyễn Tuấn H-sinh ngày 18/09/2008, hiện đang sống cùng chị T. Xét thấy, hiện nay chị T có việc làm, nơi ở ổn định, có đề nghị nuôi con chung và anh S cũng đồng ý để chị T nuôi con nên cần giao cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4.2] Về cấp dưỡng nuôi con chung: do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
[4.3] Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự đều xác định không có, không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn anh Thân Văn S1.
- Về con chung: Giao chị Trần Thị Thu N con chung Nguyễn Tuấn H-sinh ngày 18/09/2008. Về cấp dưỡng nuôi con chung: do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0002228 ngày 17/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Anh Nguyễn Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị T-Nguyễn Văn S "Ly hôn"
