Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-PT
Ngày 31/10/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thanh.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Long, bà Trương Thị Anh .

Thư ký toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Thuỷ – Kiểm sát viên;

Ngày 31 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân Gia đình thụ lý số: 28/2024/TLPT-HNGĐ ngày 03/10/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

Do bản án Hôn nhân Gia đình sơ thẩm số 81/2025HNGĐ-ST về Ly hôn, tranh chấp nuôi con ngày 21/8/2025 của TAND khu vực 5- Thanh Hoá bị kháng cáo

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 20/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị V, sinh năm: 1989. CCCD số [...].

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm: 1987; CCCD số: [...].

Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn là chị Trương Thị V trình bày tại đơn khởi kiện ngày 02 tháng 6 năm 2025, bản tự khai và trong quá trình tố tụng:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn T được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, được gia đình đồng ý và tổ chức cưới theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn vào năm 2008 nhưng không nhớ đăng ký kết hôn tại UBND xã T hay UBND xã P, huyện H (cũ). Sau khi cưới vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát. Hai bên gia đình nội ngoại đã nhiều lần hoà giải nhưng không có kết quả. Từ cuối tháng 6 năm 2024 chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở đến nay. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng để đoàn tụ nên đề nghị Toà án cho ly hôn với anh Phạm Văn T.

Về con: Vợ chồng có 3 con chung là: Cháu đầu là Phạm Minh C (nữ), sinh ngày 11/7/2012; cháu Phạm Văn D(nam), sinh ngày 05/10/2015 và cháu Phạm Đại V1(nam), sinh ngày 19/10/2018. Nay vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu Phạm Đại V1, còn hai cháu Phạm Minh C và cháu Phạm Văn D giao cho anh T nuôi, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị không đề nghị giải quyết.

2. Bị đơn là anh Phạm Văn T trình bày tại bản tự khai ngày 09 tháng 7 năm 2025, trong quá trình tố tụng như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trương Thị V kết hôn tự nguyện vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện H, nay là xã Đ, tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên khi xây nhà mới, trong lúc dọn dẹp đồ đạc thì giấy đăng ký đã bị thất lạc.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc bảo ban nhau làm ăn, hai bên cũng có xẩy ra mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, sinh hoạt gia đình, khoảng tháng 6 năm 2024 trong lúc tức giận anh có tát chị V 01 cái sau đó chị V bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đó đến nay, để ba đứa con cho anh nuôi. Nay chị V làm đơn ly hôn nhưng anh xét thấy vẫn còn tình cảm với vợ, nên mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dậy con cái.

Về con chung: có ba con chung như trình bày của chị V là đúng. Nếu chị V cương quyết ly hôn thì anh đề nghị được nuôi dưỡng cả ba cháu, không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Hiện nay anh đang làm việc tại công ty A, thu nhập bình quân hàng tháng từ 12- 13 triệu đồng/ tháng.

Về tài sản chung: anh T không yêu cầu giải quyết.

3. Tại văn bản số 109/UBND -TP ngày 16/5/2024 của UBND xã T, huyện H, nay là xã Đ, tỉnh Thanh Hóa cung cấp nội dung: Tại sổ đăng ký kết hôn năm 2008 và sổ đăng ký kết hôn các năm của UBND xã T và UBND xã P đang còn lưu giữ không có thông tin đăng ký kết hôn của chị Trương Thị V và anh Phạm Văn T.

Bản án Hôn nhân Gia đình sơ thẩm số 81/2025HNGĐ-ST về Ly hôn, tranh chấp nuôi con ngày 21/8/2025 của TAND khu vực 5 - Thanh Hoá đã:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025; Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Trương Thị V và anh Phạm Văn T là vợ chồng.

Về con chung: Công nhận chị V và anh T có ba con chung là các cháu: Phạm Minh C(nữ), sinh ngày 11/7/2012, cháu Phạm Văn D(nam), sinh ngày 05/10/2015, Phạm Đại V1(nam), sinh ngày 19/10/2018; Giao cho anh T nuôi cháu Minh C và cháu D; Giao cho chị V nuôi cháu V1, hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T, chị V có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.

Ngày 29 tháng 8 năm 2025 bị đơn là anh Phạm Văn T kháng cáo nội dung: Anh còn tình cảm với chị V nên không đồng ý ly hôn; Nếu phải ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cả ba con chung;

Tại phiên tòa: Anh Phạm Văn T rút một phần kháng cáo về nội dung: Không đồng ý ly hôn với chị V;

Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

Quá trình giải quyết vụ án cấp phúc thẩm đã tuân theo quy định của BLTTDS. Tại phiên tòa anh T rút 1 phần kháng cáo về ly hôn nên đề nghị HĐXX căn cứ Điều 289 và Điều 193 Bộ luật tố tụng dân sự: Đình chỉ việc giải quyết đối với nội dung anh T đã rút và đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của anh T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về nội dung giao nuôi con: Giao anh T nuôi cháu Minh C và cháu D; Giao chị V nuôi cháu Đại V1.

Về án phí: Anh T không phải nộp án phí về thay đổi người nuôi con nhưng rút yêu cầu ly hôn tại phiên tòa nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm quy định tại khoản 4 Điều 29 Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về trình tự tố tụng: Kháng cáo của anh Phạm Văn T làm trong hạn luật định, tại phiên tòa phúc thẩm anh T rút một phần kháng cáo nên HĐXX căn cứ Điều 289, khoản 2 Điều 293 Bộ luật to tụng dân sự: Đình chỉ việc giải quyết đối với kháng của anh T về nội dung không đồng ý ly hôn với chị Trương Thị V;

[2]. Xét kháng cáo của anh Phạm Văn T:

Anh Phạm Văn T và chị Trương Thị V được tòa án cấp sơ thẩm xác định là chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn (tại tất cả các UBND nơi anh chị từng cư trú không xác minh được việc anh chị đã từng được cấp đăng ký kết hôn), do đó khi chị Trương Thị V xét thấy tình cảm đối với anh T không còn và làm đơn ly hôn, bản án sơ thẩm đã căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình 2014 để tuyên Không công nhận chị Trương Thị V và anh Phạm Văn T là vợ chồng.

Về con: Chị V và anh T có ba con chung là các cháu: Phạm Minh C(nữ), sinh ngày 11/7/2012, cháu Phạm Văn D(nam), sinh ngày 05/10/2015, Phạm Đại V1(nam), sinh ngày 19/10/2018; Giao cho anh T nuôi cháu Minh C và cháu D; Giao cho chị V nuôi cháu V1, hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T, chị V có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.

Anh T đã kháng cáo yêu cầu được nuôi cả ba con chung:

Xét thấy: Anh chị hiện có 3 con đều đang trong độ tuổi đi học, việc trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu trong giai đoạn này cần được chú trọng hơn cả, nếu giao cả ba con cho anh nuôi là gánh nặng lớn cho anh về lâu dài và không đảm bảo việc sinh sống phát triển về mọi mặt cho các cháu. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm anh cũng trình bày từ khi vợ bỏ về bên ngoại, 4 bố con anh ở cùng với bố đẻ (già yếu và bệnh tật, đau ốm) và hai người cô là em ruột của bố cũng đã cao tuổi, như vậy cùng lúc anh phải có trách nhiệm với 06 người trong đó có 3 trẻ em 3 người già, trong khi anh làm công nhân, với thời gian cố định sáng đi- chiều toi về. Bản thân chị V là người mẹ, việc nuôi con là nghĩa vụ, trách nhiệm cũng là quyền lợi của chị, nếu được nuôi con chị cũng được bố mẹ chị hỗ trợ đưa đón cháu, nên cấp sơ thẩm giao cháu Đại V1 mới 07 tuổi cho chị nuôi là phù hợp.

Luật Hôn nhân và Gia đình nêu rõ, việc giao con cho bố hay mẹ nuôi đều nhằm đảm bảo cuộc sống tot đẹp về mọi mặt cho các con. Nên giao cho anh được nuôi cháu Minh C và cháu D, còn chị nuôi cháu V1 là hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh sống của anh chị sau khi ly hôn. Mà các anh chị có ổn định thì các con mới được ổn định để sống và học tập lành mạnh về thể chất và tinh thần.

Sau này, nếu việc nuôi con của các bên không đảm bảo còn có quyền thay đổi người nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.

Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin nuôi cả ba con của anh Phạm Văn T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về người nuôi con sau ly hôn;

Về án phí: Anh T không được chấp nhận kháng cáo nhưng vụ án thuộc tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326 UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án thuộc trường hợp không phải nộp án phí; Nhưng anh T rút một phần kháng cáo về quan hệ hôn nhân nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm quy định tại khoản 4 Điều 29 Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 289, khoản 2 Điều 293, Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

  1. Đình chỉ kháng cáo về "không đồng ý ly hôn" của bị đơn anh Phạm Văn T;
  2. Xử: Không chấp nhận kháng cáo xin được nuôi cả ba con chung của anh Phạm Văn T. Giữ nguyên bản án số 81/2025HNGĐ-ST về Ly hôn, tranh chấp nuôi con ngày 21/8/2025 của TAND khu vực 5 - Thanh Hóa như sau:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025; Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Trương Thị V và anh Phạm Văn T là vợ chồng.

Về con chung: Công nhận chị V và anh T có ba con chung là các cháu: Phạm Minh C(nữ), sinh ngày 11/7/2012, cháu Phạm Văn D(nam), sinh ngày 05/10/2015, Phạm Đại V1(nam), sinh ngày 19/10/2018; Giao cho anh T nuôi cháu Minh C và cháu D; Giao cho chị V nuôi cháu V1, hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T, chị V có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở. Nhưng chị V và anh T cũng không được lạm dụng quyền thăm nom con để làm ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của nhau.

- Án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 29 Nghị quyết 326 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí tòa án: Anh Phạm Văn T phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000₫ anh đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000719 ngày 10/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Anh T đã thi hành xong;

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhân:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
- TAND, VKSND khu vực 5-Thanh Hóa;
- Thi hành án Thanh Hóa;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Lê Thị Phương Thanh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-PT ngày 31/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger