Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HC-ST

Ngày: 28 - 02 - 2025

V/v khiếu kiện quyết định hành

chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Xuân Thắm.

Bà Thanh Thị Minh Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Trọng Kha - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 32/2025/TLST-HC ngày 14/01/2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HC ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Huỳnh Quốc K, sinh năm 1992

Địa chỉ: Số E đường D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Công T - Giám đốc.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Anh T1 - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Địa chỉ: D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Nguyễn Hoàng T2 - Chủ tịch.

2. Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Bình Thuận.

Địa chỉ: C T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T1 - Giám đốc.

3. Ông Võ Toàn D, sinh năm 1978

Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (S).

4. Bà Mai Phúc Tường V, sinh năm 1982

Địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Toàn D và bà Mai Phúc Tường V: Ông Huỳnh Quốc K, sinh năm 1992, địa chỉ: Số E đường D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Theo hợp đồng ủy quyền ngày 22/01/2025.

Tất cả các đương sự vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, người khởi kiện ông Huỳnh Quốc K trình bày:

Ngày 05/3/2024, ông Võ Toàn D và bà Mai Phúc Tường V lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Quốc K do Văn phòng C, công chứng vào ngày 05/3/2024, số công chứng 01645 quyển số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 299, tờ bản đồ số 11, diện tích 125,7 m², mục đích sử dụng đất: đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 29/3/2024, ông Huỳnh Quốc K có nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND thành phố P để đăng ký biến động thì hồ sơ của ông K bị hoàn trả theo Thông báo số 482/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 03/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Quốc K với lý do: “...Thửa đất của ông đăng ký nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 299, tờ bản đồ số 11, diện tích 125.7m², đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: Thôn X, xã P, thành phố P, theo giấy chứng nhận số CQ 156123 cấp ngày 14/01/2019. Qua kiểm tra, phần diện tích đất ở tại nông thôn của ông có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất (tại Quyết định số 4940/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 cho bà Nguyễn Ngọc T3) nhưng không phù hợp quy hoạch (Đất trồng cây lâu năm) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt....”

Chi nhánh Văn phòng Đ không thực hiện nhiệm vụ công vụ về việc đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất của ông K là làm hạn chế quyền của người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông K.

Do đó, người khởi kiện ông Huỳnh Quốc K yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy Thông báo số 482/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 03/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Quốc K. Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc điều chỉnh sang tên cho ông Huỳnh Quốc K theo quy định của pháp luật.

2

Tại Văn bản số 799/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 10/02/2025 và quá trình giải quyết vụ án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện và cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đ trình bày:

Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Quốc K, biên nhận số 2024-5411/TNHS ngày 29/03/2024. Thửa đất ông Huỳnh Quốc K nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 299, tờ bản đồ số 11, diện tích 125.7m², đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: Thôn X, xã P, thành phố P, theo Giấy chứng nhận số CQ 156123 cấp ngày 14/01/2019. Qua kiểm tra, phần diện tích đất ở tại nông thôn của ông Huỳnh Quốc K có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất (tại Quyết định số 4940/QĐ-UBND ngày 22/12/2014) nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch là đất trồng cây lâu năm) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T6 tại Công văn Số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023: “...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T6”.

Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.

Do đó, sau khi có ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Huỳnh Quốc K được biết và cùng phối hợp thực hiện. Từ vướng mắc trên, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 482/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 03/4/2024 hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Quốc K

Tại Văn bản số 277/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 12/02/2025, người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B trình bày: Thống nhất theo Văn bản số 799/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 10/2/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ và không cung cấp hồ sơ, tài liệu nào khác.

Tại Văn bản số 1079/UBND-KT ngày 19/02/2025, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:

3

Thửa đất số 299, tờ bản đồ số 11, diện tích 125,7 m², loại đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận có nguồn gốc thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156123 được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 14/01/2019 cho ông Võ Toàn D;

Ông Võ Toàn D và bà Mai Phúc Tường V (vợ của ông D) chuyển nhượng cho ông Huỳnh Quốc K theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 01645, quyền số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng C chứng thực ngày 05/3/2024.

Qua rà soát hồ sơ, thì thửa đất số 299, tờ bản đồ số 11 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156123 có nguồn gốc được UBND thành phố P ban hành Quyết định số 4940/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 cho phép bà Nguyễn Ngọc T3 được đất chuyển mục đích sử dụng đất với diện tích 1.260,0 m² từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Tại Quyết định số 4940/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 nêu trên, thì trong phần cơ sở pháp lý căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013.

Căn cứ Bản trích lục bản đồ địa chính thửa đất: Số thứ tự thửa đất 136, tờ bản đồ số 11 (trích từ thửa 136, tờ bản đồ 11 (212452-6) - Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHNƠ và tài sản khác gắn liền với đất số BS 876948 cấp ngày 09/9/2014 cho bà Nguyễn Ngọc T3) kèm theo tại Quyết định số 4940/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 do Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P ngày 11/12/2014 đối chiếu với các quy hoạch như sau:

- Căn cứ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phần lớn thuộc quy hoạch đất trồng cây lâu năm và phần nhỏ thuộc quy hoạch đất giao thông.

Hiện nay, UBND thành phố P chưa thu hồi và hủy Quyết định số 4940/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 nêu trên.

Căn cứ Điều 52 Luật Đất đai năm 2013, thì việc UBND thành phố P cho phép bà Nguyễn Ngọc T3 chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 4940/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 thì không phù hợp với Quy hoạch sử dụng đất và Kế hoạch sử dụng đất được cấp thẩm quyền phê duyệt.

Đối với nội dung ông Huỳnh Quốc K khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 482/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 03/4/2024 nêu trên và buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc điều chỉnh sang tên cho ông Huỳnh Quốc K theo quy định của pháp luật thì không thuộc thẩm quyền của UBND thành phố P vì Chi nhánh

4

Văn phòng Đ là đơn vị trực thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T6.

Trên cơ sở hồ sơ lưu trữ của Phòng T, UBND thành phố trả lời cung cấp thông tin cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận và không chịu tất cả về tính pháp lý của hồ sơ đã được cấp Giấy chứng nhận. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận căn cứ quy định để thẩm định tính hợp pháp của tài liệu.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành mở phiên họp đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nhưng không tiến hành đối thoại được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Huỳnh Quốc K, hủy Thông báo số 482/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 03/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Quốc K. Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ giải quyết hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Quốc K theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người khởi kiện ông Huỳnh Quốc K, người bị kiện Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân thành phố P, ông Võ Toàn D và bà Mai Phúc Tường V được Tòa án triệu tập hợp lệ, các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.

[2] Về quyền khởi kiện:

Ngày 05/3/2024, ông Võ Toàn D và bà Mai Phúc Tường V lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Quốc K do Văn phòng C, công chứng vào ngày 05/3/2024, số công chứng 01645 quyển số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 299, tờ bản đồ số 11, diện tích 125,7 m², mục đích sử dụng đất: đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156123 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T6 cấp ngày 14/01/2019 cho ông Võ Toàn D.

5

Ngày 29/3/2024, ông Huỳnh Quốc K có nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND thành phố P để đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất của ông. Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên ông Huỳnh Quốc K đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Huỳnh Quốc K nên ông có quyền khởi kiện đối với Thông báo số 482/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 03/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

[3] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết:

Ngày 15/7/2024, ông Huỳnh Quốc K làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Thông báo số 482/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 03/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Quốc K. Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc điều chỉnh sang tên cho ông Huỳnh Quốc K theo quy định của pháp luật. Xét thấy Thông báo số 482/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 03/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ là Quyết định hành chính. Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, đây là “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý Nhànước trong lĩnh vực đất đai” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

[4] Về thời hiệu khởi kiện:

Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 482/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 03/4/2024. Đến ngày 15/7/2024, ông Huỳnh Quốc K nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[5] Về nội dung Quyết định hành chính bị khởi kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[5.1] Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng khi có các điều kiện sau đây:

  • Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
  • Đất không có tranh chấp;
  • Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
  • Trong thời hạn sử dụng đất.

[5.2] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Quốc K với ông Võ Toàn D và bà Mai Phúc Tường V phù hợp với quy định của pháp luật, thửa đất nhận chuyển nhượng có đủ tất cả các điều kiện nêu trên và thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013. Việc đăng ký biến động sang tên người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ thay đổi tên người sử dụng đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất.

[5.3] Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Phan T4 cho rằng Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của Ủy ban nhân dân thành phố P không

6

phù hợp quy hoạch sử dụng đất, không phù hợp quy định của pháp luật nên không giải quyết hồ sơ đăng ký biến động của ông Huỳnh Quốc K. Hội đồng xét xử xét thấy:

Đến thời điểm hiện nay thì quyết định cho chuyển mục đích sử dụng đất số 4940/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn còn hiệu lực pháp luật chưa bị cơ quan nào hủy bỏ hoặc xác định việc cho chuyển mục đích quyền sử dụng đất trên là không đúng quy định của pháp luật và ban hành văn bản hủy bỏ hoặc thu hồi về việc cho chuyển mục đích trái pháp luật. Các thông tin về diện tích và mục đích sử dụng đất thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc trả lại hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ tại Thông báo số 482/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 03/4/2024 là không có căn cứ, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện nên người khởi kiện yêu cầu hủy bỏ thông báo nêu trên là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Quốc K như ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ông Huỳnh Quốc K được hoàn trả lại tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;
  • - Khoản 1 và điểm a khoản 4 Điều 95; khoản 1 Điều 168; Điều 169; Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013;
  • - Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Quốc K.
    • – Hủy Thông báo số 482/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 03/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Quốc K.
    • – Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Quốc K theo quy định của pháp luật
  2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
    • Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
    • Ông Huỳnh Quốc K không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại cho ông Huỳnh Quốc K 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên thu số 0000552 ngày 10/01/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh B.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính./.

7

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Xuân Thắm Thanh Thị Minh Hiền Nguyễn Thị Thủy T5

Nguyễn Thị Thủy Tiên

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
  • - Cục THADS tỉnh B;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Thủy Tiên

8

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HC-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 32/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Quốc K khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger