Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HC-ST

Ngày: 20-3-2025

V/v: Khiếu kiện Quyết định

hành chính trong lĩnh vực quản lý

đất đai.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Như Hạnh;

Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Phương Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 252/2024/TLST-HC ngày 04/10/2024 về việc: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2024/QĐXXST-HC ngày 31 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HC ngày 23 tháng 01 năm 2025, Quyết định tạm ngưng phiên toà số 05/2025/QĐST- HC ngày 04/3/2025 giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1939.

    Địa chỉ: Phố Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

    Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị H:

    • + Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1962 (Có mặt)

      Địa chỉ: Phố Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

    • + Ông Mai Xuân H1, sinh năm 1967 ( Có mặt)

      Địa chỉ: Số nhà I L, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Người bị kiện:

    1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T

    2. Ủy ban nhân dân thành phố T

    Địa chỉ: đường N, phường Đ, thành phố T.

    Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Trọng T – Chủ tịch

    Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Mai K – Phó Chủ tịch (Vắng mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của U: ông Đỗ Lê C – Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường - UBND thành phố T (Vắng mặt) .

2

  1. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    1. UBND phường Đ

      Địa chỉ: Số A đường Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

      Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Quốc H2 - Chủ tịch (Vắng mặt)

    2. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1962

    3. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1964

    4. Ông Lê Huy K1, sinh năm 1967

    5. Bà Lê Thị T2, sinh năm 1970

    6. Bà Phương Thị H3, sinh năm 1975

    Cùng địa chỉ: Phố Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/8/2024, Đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 11/02/2025 của bà Nguyễn Thị H và trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của bà H là bà Lê Thị Đ, ông Mai Xuân H1 trong quá trình giải quyết vụ án:

Thửa đất của gia đình bà Nguyễn Thị H hiện nay đang bị thu hồi có nguồn gốc của vợ chồng bà sử dụng vào mục đích làm nhà ở từ những năm 1970. Từ trước đến nay, gia đình sử dụng đất vào mục đích để ở và có các công trình xây dựng nhà ở, các công trình khác phục vụ sinh hoạt gia đình. Đồng thời, gia đình bà H sử dụng ổn định, không có tranh chấp, không lấn chiếm, không bị xử phạt vi phạm hành chính và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng thuế hàng năm trong suốt quá trình sử dụng. Tại các bản đồ và hồ sơ địa chính về đất đai đều thể hiện diện tích bị thu hồi có mục đích sử dụng đất là đất ở (ODT), có ranh giới rõ ràng, cụ thể:

  • Bản đồ theo Chỉ thị 299/TTg: Tại thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03, diện tích 616m², loại đất T;

  • Bản đồ địa chính xã Đ đo vẽ năm 1994: Tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 04, diện tích 864m², loại đất T, đứng tên chủ sử dụng Nguyễn Thị H;

  • Trích đo địa chính khu đất lập ngày 24/3/2021: Tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số 04, diện tích 1.023,6m²; chủ sử dụng đất bà Nguyễn Thị H.

Khoảng tháng 02/2022, gia đình bà H nhận được Quyết định số 1392/QĐ-UBND ngày 27/01/2022 của UBND thành phố T ban hành về việc thu hồi đất của gia đình bà đang sử dụng tại phố Đ, phường Đ để thực hiện dự án: khu đô thị Đ thành phố T. Theo quyết định trên, gia đình tôi bị thu hồi 1.023,6m² đất với phương án bồi thường, hỗ trợ, cụ thể như sau: Diện tích thu hồi đã được bồi thường hỗ trợ: 1.023,6m², trong đó: 417,1m² đất ở và 606,5m² đất trồng cây lâu năm cùng thửa đất có nhà ở.

Theo nội dung trên, gia đình bà không đồng tình với phương án bồi thường nên đã làm các đơn thư khiếu nại đề nghị UBND Thành phố T áp dụng mức bồi thường 1.000m² đất ở và 23,6m² đất vườn trong cùng thửa đất có nhà ở.

3

Ngày 20/5/2024, UBND thành phố T Công văn số 3047/UBND-TNMT trả lời khiếu nại của bà Nguyễn Thị H. Tuy nhiên, theo nội dung trong quyết định trên, UBND Thành phố T không đồng ý với nội dung khiếu nại.

Vì vậy, nay bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu sau:

  1. Hủy một phần Quyết định số 1392/QĐ-UBND ngày 27/01/2022 của UBND thành phố T về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị H tại phố Đ, phường Đ để thực hiện Dự án Khu đô thị Đ, cụ thể: Hủy một phần Điều 1 có nội dung như sau: “Diện tích được tính bồi thường, hỗ trợ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở: 606,5m²”.

  2. Hủy một phần Quyết định số 1666/QĐ-UBND ngày 10/2/2022 của UBND thành phố T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho 19 hộ gia đình, cá nhân tại phố Đ, phường Đ để thực hiện dự án: Khu đô thị Đ, cụ thể: Huỷ phần diện tích 606,5m² xác định là diện tích đất vườn ao trong cùng thửa đất của gia đình bà H tại số thứ tự số 12, mục số 1. Đối tượng thu hồi đất, trong Bảng chi tiết phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

  3. Hủy Công văn số 3047/UBND-TNMT ngày 20/5/2024 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc trả lời đơn của bà Nguyễn Thị H phố Đ, phường Đ, thành phố T.

  4. Buộc UBND Thành phố T bồi thường, hỗ trợ toàn bộ diện tích đất bị thu hồi là 1.023,6m², trong đó có 1.000m² đất ở và 23,6m² đất vườn trong cùng thửa đất có nhà ở. Diện tích đã được bồi thường là 417,1m²; diện tích đất ở cần bồi thường bổ sung là 582,9m².

Ý kiến của người bị kiện UBND thành phố T tại công văn số 1493 ngày 04/3/2025: UBND thành phố T đã ban hành các Quyết định số 1392/QĐ-UBND ngày 27/01/2022 và số 1666/QĐ-UBND ngày 10/02/2022, theo đó: Thu hồi đất và phê duyệt, phương án bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Nguyễn Thị H để thực hiện dự án: Khu đô thị Đ, thành phố T, với diện tích đất thu hồi là 1.023,6m² đất, trong đó: Đất ở là 417,1m² và đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở là 606,5m². Qua kiểm tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thấy: Ngày 08/6/2012, hộ bà Nguyễn Thị H được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 54128, tại thôn Đ, xã Đ (nay là phố Đ, phường Đ), thành phố T, với diện tích được cấp là 868m², trong đó: Đất ở là 417,1m² và đất trồng cây lâu năm là 450,9m², với nguồn gốc sử dụng đất của hộ bà H là đất thổ cư, thời điểm sử dụng đất trước ngày 18/12/1980. Qua kiểm tra hồ sơ thu hồi đất cho thấy: Diện tích đất thực tế do hộ bà H sử dụng là 1.023,6m². Phần diện tích tăng thêm so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là 156,8m² được UBND phường Đ xác định là đất trồng cây lâu năm cùng thửa với đất ở. Tại Bản đồ lập theo Chỉ thị 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ khu đất do hộ ông H đang sử dụng thuộc thửa đất số 203, tờ số 03, diện tích nguyên thửa là 616m², loại đất T (đo bao cả diện tích đất của hộ bà Nguyễn Thị T3); tại Bản đồ địa chính phường Đ, đo vẽ năm 1994, khu đất do hộ bà H đang sử dụng thuộc thửa đất số 50, tờ số 04, diện tích là 864m², loại đất T (thổ cư).

4

Trên cơ sở nguồn gốc sử dụng đất của hộ bà Nguyễn Thị H được UBND phường Đ xác định tại thời điểm thu hồi đất. Ngày 27/01/2022, UBND thành phố T ban hành Quyết định 1392/QĐ-UBND, thu hồi toàn bộ phần thửa đất với diện tích 1.023,6m², trong đó: Đất ở là 417,1 m² và đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở là 606,5 m². Căn cứ quy định Khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013; quy định của UBND tỉnh T tại: Điểm a Khoản 1 Điều 4 quy định kèm theo Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014, về hạn mức giao đất ở...; Quyết định số 2072/2015/QĐ-UBND ngày 08/6/2015 và Quyết định số 4655/QĐ-UBND ngày 04/12/2017, thì: Đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất là đất thổ cư, thời điểm hình thành thửa đất là trước ngày 18/12/1980 không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, thì tổng diện tích đất ở được xác định đối với từng thửa đất tại Bản đồ lập theo Chỉ thị 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ là 600m² (bằng 05 lần hạn mức giao đất ở). Tuy nhiên, tổng diện tích đất ở của hộ bà Nguyễn Thị H và hộ bà Nguyễn Thị T3 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã vượt quá 05 lần hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành. Như vậy, việc bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hủy một phần các quyết định liên quan đến thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho gia đình bà Nguyễn Thị H để thực hiện dự án Khu đô thị Đ, thành phố T là không có cơ sở.

Ý kiến của UBND phường Đ tại Công văn số 3047/UBND-TNMT ngày 20/5/2024 và ý kiến của UBND phường Đ ngày 29/10/2024:

Hộ bà Nguyễn Thị H được UBND thành phố T cấp GCNQSD đất số BK 54128 ngày 08/6/2012, tại thôn Đ, xã Đ (nay là phố Đ, phường Đ), thành phố T với diện tích được cấp là 868m², trong đó: Đất ở là 417,1m² và đất trồng cây lâu năm là 450,9m². Theo hồ sơ đăng ký cấp GCNQSD đất, nguồn gốc đất sử dụng đất của hộ bà H4 là đất thổ cư, thời điểm sử dụng đất trước ngày 18/12/1980.

Qua kiểm tra hồ sơ thu hồi đất cho thấy: Diện tích đất thực tế do hộ bà H sử dụng là 1.023,6m². Phần diện tích tăng thêm so với GCNQSD đất đã cấp là 156,8m² được UBND phường Đ xác định là đất trồng cây lâu năm cùng thửa với đất ở.

Tại Bản đồ lập theo Chỉ thị 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ khu đất do hộ bà H đang sử dụng thuộc thửa đất số 203, tờ số 03, diện tích nguyên thửa là 616m², loại đất T (thổ cư, đo bao cả diện tích đất của hộ ông, bà Lê Bá B - Nguyễn Thị T3); tại Bản đồ địa chính phường Đ, đo vẽ năm 1994, khu đất do hộ bà H đang sử dụng thuộc thửa đất số 50, tờ số 04, diện tích là 864m², loại đất T (thổ cư). Thửa đất số 203, tờ số 03, có diện tích 616m², loại đất T, đã cấp Giấy CNQSD đất cho 02 hộ: Hộ bà Nguyễn Thị T3 198,9m² đất ở và hộ bà Nguyễn Thị H 417,1m² đất ở.

5

Căn cứ quy định Khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013; điểm a Khoản 1 Điều 4 quy định ban hành kèm theo Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 của UBND tỉnh T về hạn mức giao đất ở.... Quyết định số 2072/2015/QĐ-UBND ngày 08/6/2015 và Quyết định số 4655/QĐ-UBND ngày 04/12/2017: Đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất là đất thổ cư, thời điểm hình thành thửa đất là trước ngày 18/12/1980 không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, thì tổng diện tích đất ở được xác định đối với từng thửa đất tại Bản đồ lập theo Chỉ thị 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ là 600m² (bằng 05 lần hạn mức giao đất ở). Tuy nhiên, tổng diện tích đất ở của hộ bà Nguyễn Thị H và hộ bà Nguyễn Thị T3 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã vượt quá 05 lần hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành.

Trên cơ sở nguồn gốc sử dụng đất của hộ bà Nguyễn Thị H, thực tế sử dụng đất và cấp GCNQSD đất của các hộ có liên quan. Ngày 27/01/2022, UBND thành phố ban hành Quyết định 1392/QĐ-UBND, thu hồi toàn bộ phần thửa đất với diện tích 1.023,6m², trong đó: Đất ở là 417,1m² và đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở là 606,5m².

Việc bà Nguyễn Thị H đề nghị xem xét lại diện tích đất ở bồi thường, khi thu hồi đất của gia đình bà để thực hiện dự án: Khu đô thị Đ, thành phố T là không có cơ sở.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị T1, ông Lê Huy K1, bà Lê Thị T2, bà Phương Thị H3 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà nguyễn Thị H đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, người khởi kiện giữ nguyên các nội dung yêu cầu khởi kiện và bổ sung yêu cầu (có đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện kèm theo), nội dung bổ sung: buộc UBND thành phố T xác định hạn mức đất ở cho gia đình bà khi thu hồi là 1000m², phê duyệt bổ sung thêm 582,9m² đất ở không phải nộp tiền sử dụng đất và bố trí đất ở tái định cư đối với diện tích đất ở được phê duyệt, hỗ trợ bồi thường bổ sung theo quy định của pháp luật và chính sách chung của dự án.

Người bị kiện vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, HĐXX,Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng của Luật Tố tụng hành chính; các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng, chấp hành việc triệu tập và có mặt tại phiên tòa theo đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.

  • Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ Căn cứ khoản 1 Điều 18 Luật khiếu nại năm 2011 và Điều 62, 66, 69 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 12

6

Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Tiết b Điểm 2 Khoản 2, Điều 1 Quyết định số 4655/2017/QĐ-UBND ngày 04/12/2017 của UBND tỉnh; Điều 5, Khoản 1 Điều 7 Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 và Điều 1 Quyết định số 2072/2015/QĐ-UBND ngày 08/6/2015 của UBND tỉnh; Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; điểm b Khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính 2015: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với các nội dung:

  • Hủy một phần Quyết định số 1392/QĐ-UBND ngày 27/01/2022 của UBND thành phố T về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị H tại phố Đ, phường Đ để thực hiện Dự án Khu đô thị Đ, cụ thể: Hủy một phần Điều 1 có nội dung như sau: “Diện tích được tính bồi thường, hỗ trợ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở: 606,5m²”.

  • Hủy một phần Quyết định số 1666/QĐ-UBND ngày 10/2/2022 của UBND thành phố T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho 19 hộ gia đình, cá nhân tại phố Đ, phường Đ để thực hiện dự án: Khu đô thị Đ, cụ thể: Huỷ phần diện tích 606,5m² xác định là diện tích đất vườn ao trong cùng thửa đất của gia đình bà H tại số thứ tự số 12, mục số 1. Đối tượng thu hồi đất, trong Bảng chi tiết phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

  • Hủy Công văn số 3047/UBND-TNMT ngày 20/5/2024 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc trả lời đơn của bà Nguyễn Thị H phố Đ, phường Đ, thành phố T.

  • Buộc UBND Thành phố T bồi thường, hỗ trợ toàn bộ diện tích đất bị thu hồi là 1.023,6m², trong đó có 1.000m² đất ở và 23,6m² đất vườn trong cùng thửa đất có nhà ở. Diện tích đã được bồi thường là 417,1m²; diện tích đất ở cần bồi thường bổ sung là 582,9m² và không phải nộp tiền sử dụng đất.

  • Buộc UBND thành phố T bố trí đất tái định cư theo quy định của pháp luật và chính sách chung của dự án.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H không phải nộp án phí HCST; Chủ tịch UBND thành phố T và UBND thành phố T phải nộp án phí hành chính sơ thẩm, mỗi người nộp 300.000đ án phí theo khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và các bên đương sự, HĐXX sơ thẩm nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện (UBND thành phố T) vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, HĐXX căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 158 Luật TTHC xét xử vắng mặt là phù hợp.

7

[2] Về đối tượng khởi kiện, quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án:

  • [2.1] Về quyền khởi kiện: Bà Nguyễn Thị H là người khởi kiện các QĐHC của UBND thành phố T ban hành trong lĩnh vực quản lý đất đai. Bà Nguyễn Thị H cho rằng, các quyết định hành chính nêu trên đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của gia đình bà nên bà H có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 điều 115 Luật tố tụng hành chính 2015.

  • [2.2] Về đối tượng, thẩm quyền và thời hiệu giải quyết vụ án:

    Về thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án: các QĐHC của UBND thành phố T ban hành trong lĩnh vực quản lý đất đai là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính 2015.

    Về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính: Công văn số 3047/UBND-TNMT ngày 20/5/2024 của Chủ tịch UBND thành phố T và các QĐHC liên quan bị khởi kiện trong thời hạn 1 năm, thời hiệu khởi kiện đảm bảo theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính 2015.

  • [3] Về trình tự, thẩm quyền ban hành Công văn số 3047/UBND-TNMT ngày 20/5/2024 của Chủ tịch UBND thành phố T và Quyết định số 1392/QĐ-UBND ngày 27/01/2022; Quyết định số 1666/QĐ-UBND ngày 10/2/2022 của UBND thành phố T:

    Thực hiện Công văn số 3611/UBND-TD ngày 18/3/2024 của UBND tỉnh T, về việc chuyển đơn và chỉ đạo giải quyết đơn của bà Nguyễn Thị H tại phố Đ, phường Đ, với nội dung: “Đề nghị xem xét lại diện tích đất ở bồi thường, khi thu hồi đất của gia đình bà để thực hiện dự án: Khu đô thị Đ, thành phố T”.

    Ngày 20/5/2024 Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Công văn số 3047/UBND-TNMT về việc trả lời đơn của bà Nguyễn Thị H phố Đ, phường Đ, thành phố T. Kết quả trả lời đơn: “Ngày 27/01/2022 UBND thành phố T ban hành Quyết định số 1392/QĐ-UBND thu hồi toàn bộ phần thửa đất với diện tích 1.023,6m², trong đó: Đất ở là 417,1m² và đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở là 606,5m². Việc bà Nguyễn Thị H đề nghị xem xét lại diện tích đất ở bồi thường, khi thu hồi đất của gia đình bà để thực hiện dự án: Khu đô thị Đ, thành phố T là không có cơ sở”.

    Để thực hiện dự án: Khu đô thị Đ, thành phố T, ngày 27/01/2022 UBND thành phố T đã ban hành Quyết định số 1392/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của bà Nguyễn Thị H. Do đó, thẩm quyền giải đơn thư khiếu nại là của Chủ tịch UBND thành phố T. Tuy nhiên, Công văn số 3047/UBND-TNMT được ban hành là dạng công văn, có chứa đựng nội dung liên quan đến quyền lợi ích của bà Nguyễn Thị H. Do đó, Công văn số 3047/UBND-TNMT là quyết định hành chính.

8

  • [4] Về trình tự, thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính nêu trên, Chủ tịch UBND thành phố T và UBND thành phố T đã thực hiện đúng quy định của khoản 1 Điều 18 Luật khiếu nại năm 2011 và Điều 62, 66, 69 Luật đất đai năm 2013.

  • [5] Xét yêu cầu khởi kiện huỷ Công văn số 3047/UBND-TNMT ngày 20/5/2024 của Chủ tịch UBND thành phố T và huỷ 1 phần Quyết định số 1392/QĐ-UBND ngày 27/01/2022; huỷ 1 phần Quyết định số 1666/QĐ-UBND ngày 10/2/2022 của UBND thành phố T; Buộc UBND thành phố T phê duyệt bổ sung 582,9m² đất ở và 23,6m² đất vườn, ao trong cùng thửa đất ở có nhà ở; Bố trí đất tái định cư theo chính sách chung của dự án:

    • [5.1] Về nguồn gốc sử dụng đất và hồ sơ địa chính qua các thời kỳ:

      Bản đồ 299/TTg năm 1985, khu đất hộ bà H đang sử dụng thuộc thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03, diện tích nguyên thửa là 616m² loại đất T (thổ cư, đo bao cả diện tích đất của hộ ông, bà Lê Bá B – Nguyễn Thị T3); sổ mục kê ghi tên Lê Bá B1.

      Bản đồ địa chính phường Đ, đo vẽ năm 1994, khu đất do hộ bà H đang sử dụng thuộc thửa đất số 50, tờ số 04, diện tích là 864m², loại đất T (thổ cư). Sổ mục kê ghi chủ sử dụng Nguyễn Thị H.

      Hộ bà Nguyễn Thị H được UBND thành phố T cấp GCNQSD đất số BK 54128 ngày 08/6/2012, tại thôn Đ, xã Đ (nay là phố Đ, phường Đ), thành phố T với diện tích được cấp là 868m², trong đó: Đất ở là 417,1m² và đất trồng cây lâu năm là 450,9m². Theo hồ sơ đăng ký cấp GCNQSD đất, nguồn gốc đất sử dụng đất của hộ bà H4 là đất thổ cư, thời điểm sử dụng đất trước ngày 18/12/1980.

      Diện tích đất thực tế do hộ bà Nguyễn Thị H sử dụng khi thu hồi là 1.023,6m². Phần diện tích tăng thêm so với GCNQSD đất đã cấp là 156,8m² được UBND phường Đ xác định là đất trồng cây lâu năm cùng thửa với đất ở.

      UBND thành phố T đã căn cứ khoản 2 Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ để thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với diện tích đất sử dụng thực tế của hộ bà Nguyễn Thị H là có căn cứ.

      Điều 12. Bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất

      Trường hợp thu hồi đất mà diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) thì được bồi thường theo quy định sau đây:

      1. .....

9

  1. Nếu diện tích đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất do việc đo đạc trước đây thiếu chính xác hoặc do khi kê khai đăng ký trước đây người sử dụng đất không kê khai hết diện tích nhưng toàn bộ ranh giới thửa đất đã được xác định là không thay đổi, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề, không do lấn, chiếm thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.

Để thực hiện Dự án Khu đô thị Đ, ngày 27/01/2022 UBND thành phố T ban hành Quyết định số 1392/QĐ-UBND về việc thu hồi 1.023,6m² đất của hộ bà Nguyễn Thị H tại phố Đ, phường Đ (trong đó: đất ở 417,1m²; đất vườn ao trong cùng thửa đất có nhà ở 606,5m²). Đất thu hồi thuộc thửa đất số 06, tờ bản đồ số 04, theo Mảng đo đạc địa chính số 06/ĐĐCL-2021, tỷ lệ 1/1000 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, lập ngày 24/3/2021.

Ngày 10/02/2022, UBND thành phố ban hành Quyết định số 1666/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho 19 hộ gia đình, cá nhân tại phố Đ, phường Đ để thực hiện dự án. Trong đó, hộ bà Nguyễn Thị H được bồi thường về đất số tiền 4.439.114.000đ; số tiền bồi thường bồi thường, hỗ trợ cây cối, vật kiến trúc trên đất được bồi thường cho gia đình 02 con trai và cháu gái của bà H, tổng số tiền 1.263.508.000đ (Bút lục 15).

UBND thành phố T áp dụng hạn mức đất ở của hộ bà Nguyễn Thị H và hộ ông bà Lê Bá B2 – Nguyễn Thị T3 là 120m² x 5 = 600m².

Việc UBND thành phố T xác định loại đất thu hồi của hộ bà Nguyễn Thị H như trên (hạn mức đất ở của hộ bà Nguyễn Thị H và hộ ông bà Lê Bá B2 - Nguyễn Thị T3 chung thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03 Bản đồ 299 là 600m² = 120m² x 5) đã không đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất bị thu hồi.Bà Nguyễn Thị H khiếu kiện cho rằng: thửa đất của gia đình bà được hình thành trước năm 1980, thời điểm đang là xã Đ, huyện Đ nên hạn mức đất ở áp dụng là 200m² và đó là hạn mức đất ở áp dụng cho mỗi hộ gia đình, cá nhân/thửa đất gia đình đang sử dụng.

Mặt khác, hộ bà Nguyễn Thị H và hộ ông bà Lê Bá B2 – Nguyễn Thị T3 là 02 hộ gia đình khác nhau, không có chung huyết thống, không sử dụng chung nguồn gốc đất. Diện tích đất gia đình bà H sử dụng và diện tích đất gia đình ông bà Lê Bá B2 – Nguyễn Thị T3 sử dụng được đo gộp chung thành thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03 Bản đồ 299 việc đo bao gộp 01 thửa đất cho hai hộ như vậy là không đúng quy định. Vị trí thửa đất của gia đình bà sử dụng không thuộc trung tâm xã, không thuận lợi cho việc thương mại kinh doanh nên theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 4 Quyết định 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 của UBND tỉnh T, gia đình bà sẽ được công nhận 200m² đất ở.

Điều 4. Hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở tại nông thôn (theo khoản 2 Điều 143 Luật đất đai 2013).

  1. Hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân.

10

  • Đối với địa bàn xã thuộc thành phố, thị xã: tối đa 120 m²/hộ;

  • Đối với địa bàn xã Đ thuộc huyện.

    • Tối đa 150 m²/hộ đối với các vị trí ven đường giao thông, khu vực trung tâm xã, cụm xã T cho hoạt động thương mại, dịch vụ, sinh hoạt;

    • Tối đa 200 m²/hộ đối với các vị trí còn lại.

Về lịch sử hình thành phường Đ: Ngày 28/8/1971,Thủ tướng Chính phủ ra Nghị quyết số 226/TTg, theo đó sát nhập 3 xã: Đông Vệ, Đ, Đ thuộc huyện Đ xã Q thuộc huyện Q sát nhập vào thị xã T. Lần lượt năm1991 và 1993, thị xã T được xếp vào đô thị loại 4 và loại 3. Từ đó thị xã T có 7 phường: B, Điện Biên, H, L, N, Ngọc T4, P và 5 xã: Đ, Đ, Đ, Đ, Q. Ngày 01/5/1994, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 37/CP nâng cấp thị xã T lên thành phố T với 15 phường, xã, tổng diện tích tự nhiên 57,8km², dân số gần 20 vạn người. Ngày 28/6/1994, Chính phủ ra Nghị định số 55-CP thành lập một số phường thuộc thành phố T, chuyển 2 xã Đ và Đ thành 2 phường có tên tương ứng; chia xã Đ thành xã Đ và phường Đ; chia phường N thành 2 phường: N và T.

Ngày 19/8/2013, thành lập phường Đ thuộc thành phố T trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Đ.

Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 7 Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 của UBND tỉnh quy định: “Đối với những hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở hoặc đất vườn ao mà đất đó được hình thành trước thời điểm được công nhận là đô thị (thị trấn, phường) thì áp dụng hạn mức địa bàn nông thôn theo quy định tại Điều 4 của Quy định”;

Năm 2015, nội dung Khoản 1 Điều 7 này được đính chính tại Điều 1 Quyết định số 2072/2015/QĐUBND ngày 08/6/2015 của UBND tỉnh: Đính chính lại là: “1. Đối với những hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở hoặc đất vườn ao mà đất đó được hình thành trước thời điểm được công nhận là đô thị (thị trấn, phường) thì áp dụng hạn mức địa bàn nông thôn theo quy định tại Điều 5 của Quy định”;

Đến năm 2017, Điều 5 đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1, Quyết định số 4655/2017/QĐ-UBND ngày 04/12/2017 của UBND tỉnh: Sửa đổi, bổ sung Điều 5 như sau: “Hạn mức công nhận đất ở đối với trường hợp thửa đất có vườn, ao... b) Trường hợp đã sử dụng ổn định từ trước ngày 18/12/1980 thì diện tích đất ở được xác định theo thực tế đang sử dụng, nhưng không quá 05 lần hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 1 Điều 3 hoặc khoản 1 Điều 4 của quy định”.

Khoản 1 Điều 4 quy định: “1. Hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân.

  • Đối với địa bàn xã thuộc thành phố, thị xã: tối đa 120m²/hộ;

  • Đối với địa bàn xã đồng bằng thuộc huyện.

    • Tối đa 150m² /hộ đối với các vị trí ven đường giao thông, khu vực trung tâm xã, cụm xã T cho hoạt động thương mại, dịch vụ, sinh hoạt;

    • Tối đa 200m²/hộ đối với các vị trí còn lại”.

11

Như vậy, việc xác định diện tích đất ở đối với hộ bà Nguyễn Thị H thuộc trường hợp quy định tại Tiết b, Đ, K, Điều 1, Quyết định số 4655/2017/QĐ-UBND ngày 04/12/2017 của UBND tỉnh; nội dung Tiết b điểm 2 Khoản 2 Điều 1 của Quyết định quy định diện tích đất ở được xác định... theo quy định tại Điều 3 (đất ở tại đô thị) hoặc Điều 4 (đất ở tại nông thôn).

Do thửa đất hộ bà Nguyễn Thị H có nguồn gốc đã sử dụng từ trước năm 1980, được hình thành trước thời điểm được công nhận là đô thị (thời điểm đang là xã Đ) nên căn cứ các quy định tại: Điều 5; Khoản 1, Điều 7, Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 và Điều 1, Quyết định số 2072/2015/QĐ-UBND ngày 08/6/2015 của UBND tỉnh, diện tích đất ở hộ bà Nguyễn Thị H được xác định theo địa bàn xã đồng bằng thuộc huyện, quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 4, Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 4463/2014/QĐUBND ngày 12/12/2014 của UBND tỉnh: “Đối với địa bàn xã đồng bằng thuộc huyện. - Tối đa 150m²/hộ đối với các vị trí ven đường giao thông, khu vực trung tâm xã, cụm xã T cho hoạt động thương mại, dịch vụ, sinh hoạt; - Tối đa 200m²/hộ đối với các vị trí còn lại”.

Đối chiếu các quy định nêu trên của UBND tỉnh, hạn mức đất ở của hộ bà Nguyễn Thị H được xác định 1000m² (5 x 200m²/hộ = 1000m²/hộ), vì vị trí thửa đất không thuộc ven đường giao thông, khu vực trung tâm xã, cụm xã T cho hoạt động thương mại, dịch vụ, sinh hoạt.

Như vậy, diện tích đất ở của hộ bà Nguyễn Thị H được xác định là 1000m²; theo đó hộ bà H được bồi thường 1000m² đất ở; 23,6m² đất vườn ao cùng thửa đất có nhà ở (đã bồi thường 417,1m² đất ở; nay bà H được phê duyệt bồi thường bổ sung thêm 582,9m² đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất, do nguồn gốc thửa đất sử dụng trước ngày 18/12/1980, loại đất vườn ao cùng thửa đất có nhà ở).

Việc hỗ trợ đất tái định cư theo quy định của pháp luật và chính sách chung của dự án.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H là có căn cứ

[4] Từ những nhận định trên, HĐXX có căn cứ chấp toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H

[5] Về án phí: Bà H không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật. Chủ tịch UBND thành phố T và UBND thành phố T phải nộp án phí hành chính sơ thẩm, mỗi người nộp 300.000đ án phí theo khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 18 Luật khiếu nại năm 2011 và Điều 62, 66, 69 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Tiết b, Điểm 2, Khoản 2, Điều 1, Quyết định số

12

4655/2017/QĐ-UBND ngày 04/12/2017 của UBND tỉnh; Điều 5, Khoản 1 Điều 7 Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 và Điều 1 Quyết định số 2072/2015/QĐ-UBND ngày 08/6/2015 của UBND tỉnh; Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; điểm b Khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính 2015: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với các nội dung:

  • Hủy một phần Quyết định số 1392/QĐ-UBND ngày 27/01/2022 của UBND thành phố T về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị H tại phố Đ, phường Đ để thực hiện Dự án Khu đô thị Đ, cụ thể: Hủy một phần Điều 1 có nội dung như sau: “Diện tích được tính bồi thường, hỗ trợ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở: 606,5m²”.

  • Hủy một phần Quyết định số 1666/QĐ-UBND ngày 10/2/2022 của UBND thành phố T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho 19 hộ gia đình, cá nhân tại phố Đ, phường Đ để thực hiện dự án: Khu đô thị Đ, cụ thể: Huỷ phần diện tích 606,5m² xác định là diện tích đất vườn ao trong cùng thửa đất của gia đình bà H tại số thứ tự số 12, mục số 1. Đối tượng thu hồi đất, trong Bảng chi tiết phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

  • Hủy Công văn số 3047/UBND-TNMT ngày 20/5/2024 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc trả lời đơn của bà Nguyễn Thị H phố Đ, phường Đ, thành phố T.

  • Buộc UBND Thành phố T bồi thường, hỗ trợ toàn bộ diện tích đất bị thu hồi là 1.023,6m², trong đó có 1.000m² đất ở và 23,6m² đất vườn trong cùng thửa đất có nhà ở. Diện tích đã được bồi thường là 417,1m²; diện tích đất ở cần bồi thường bổ sung là 582,9m² và không phải nộp tiền sử dụng đất.

  • Buộc UBND thành phố T bố trí đất tái định cư theo quy định của pháp luật và chính sách chung của dự án.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H không phải nộp án phí HCST; Chủ tịch UBND thành phố T và UBND thành phố T phải nộp án phí hành chính sơ thẩm, mỗi người nộp 300.000đ án phí theo khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

Quyền kháng cáo: các đương sự và người đại diện theo ủy quyền có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;

  • - ViệnKSND cấp cao tại Hà Nội;

  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;

  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;

  • - Đương sự;

  • - Lưu: HS vụ án; Tòa HC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HC-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 32/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T "hiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger