Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/DSPT

Ngày 24/3/2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hạng

Các thẩm phán: Bà Bùi Thị Bích Liễu

Bà Lương Ngọc Yến Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Phiên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 20/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 01 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do có kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị N đối với Bản án số 38/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hoà theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXPT- DS ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Trương H, sinh năm: 1951; địa chỉ: TDP H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Quang B, sinh năm: 1951; địa chỉ: TDP Hòa Do E, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt

- Bị đơn: Bà Đặng Thị N, sinh năm: 1973; địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm:1956; địa chỉ: TDP H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Đỗ Quang B, sinh năm: 1951; địa chỉ: TDP Hòa Do E, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt

  3. Ông Trần Nam Đ – Công chứng viên của văn phòng C; địa chỉ: Số D H, TDP H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Đặng Thị N

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

- Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày:

Năm 2022, vợ chồng ông Trương H, bà Nguyễn Thị T làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 119 toạ lạc tại Tổ dân phố H, phường C, thành phố C cho bà Đặng Thị N (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BU 127633, số vào sổ cấp GCN: CH30324 do UBND thành phố C cấp ngày 16/9/2014 cho ông H, bà T).

Sau khi các bên đã hoàn tất thủ tục chuyển nhượng thửa đất nêu trên, bà N còn nợ ông H, bà T số tiền 1.125.000.000 đồng (một tỉ một trăm hai lăm triệu đồng) nên giữa ông H, bà T và bà N lập Giấy mượn tiền, trong giấy mượn tiền, bà N cam kết trong thời gian từ ngày 25/4/2022 đến ngày 25/6/2022 sẽ trả hết số tiền này.

Để làm tin, bà N có giao một bản chính giấy chứng nhận quyền sử dung đất số phát hành CY 018599, số vào sổ cấp GCN: CS02412 ngày 18/9/2020 đứng tên bà Đặng Thị N để làm tin.

Cho đến nay bà N vẫn chưa trả số tiền 1.125.000.000 đồng cho ông H bà T. Hai bên có thoả thuận mức lãi suất 3%/tháng và bà N đã chuyển trả lãi hai lần, một lần 15.000.000 đồng và một lần 8.000.000 đồng.

Nay ông H khởi kiện yêu cầu bà Đặng Thị N phải trả 1.125.000.000 đồng và phải chịu mức lãi suất 0,83%/tháng từ ngày 26/4/2022 đến ngày 26/6/2022 là 18.675.000 đồng; phải chịu mức lãi suất 1,25%/tháng, tính từ ngày 26/9/2022 cho đến nay là 27 tháng là 379.685.500 đồng. Bà N đã trả cho ông H được 23.000.000 đồng tiền lãi nên phải trả tiếp cho ông H, bà T số tiền 1.500.362.500 đồng. Sau khi nhận đủ tiền, ông H bà T sẽ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CY 018599 cho bà N.

- Tại bản tự khai ngày 21/7/2023, biên bản lấy lời khai ngày 30/5/2024 bà Đặng Thị N trình bày; tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của bà N trình bày:

Ngày 03/3/2022, bà Đặng Thị N nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Trương H, bà Nguyễn Thị T thửa đất số 26, tờ bản đồ số 119 toạ lạc tại P, C, C với số tiền 2.880.000.000 đồng (hai tỉ tám trăm tám chục triệu đồng). Khi ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng, ông H và T đồng ý làm thủ tục sang tên thửa đất cho bà N, sau đó bà N thế chấp ngân hàng lấy tiền trả cho ông H bà T, khi bà N đem thế chấp ngân hàng thì biết thông tin thửa đất bị quy hoạch nên không thế chấp được. Thấy hoàn cảnh của ông H bà T khó khăn nên bà N đồng ý viết giấy nhận nợ đề ngày 25/4/2022, còn nợ ông H bà T 1.125.000.000 đồng và giao 01 giấy chứng nhận để làm tin, khi nào thế chấp hoặc bán được thửa đất số 26, tờ bản đồ 119 sẽ trả số tiền còn lại cho ông H bà T. Thực tế bà N không nhận số tiền 1.125.000.000 đồng của ông H, bà T, khi nào bán được thửa đất số 26, tờ bản đồ số 119 sẽ trả nợ hoặc bà N, ông H, bà T đồng sở hữu thửa đất số 26, tờ bản đồ số 119.

Như vậy, trong quá trình mua bán thửa đất số 26, tờ bản đồ số 119, ông H bà T đã cố tình che giấu thông tin của thửa đất để bán thửa đất cho bà N. Nay bà N

2

yêu cầu ông H, bà T và bà N đồng sở hữu thửa đất 26, tờ bản đồ số 119 và huỷ bỏ giấy vay tiền lập ngày 25/4/2022. Đồng thời, bà N rút lại một phần yêu cầu phản tố về việc huỷ bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng ngày 26/4/2024, chứng thực số 2480; quyển 03/2022 – TP/CC-SCC/HĐGD do văn phòng C1); về số tiền 140.000.000 đồng (một trăm bốn chục triệu đồng) san lấp thửa đất 26, tờ bản đồ số 119; về lấy lại số tiền 1.755.000.000 đồng, trả lại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 119 cho ông H, bà T.

Trong giấy vay tiền đề ngày 25/4/2022 không có thoả thuận lãi, các khoản tiền bà N chuyển cho ông H bà T 15.000.000 đồng và 8.000.000 đồng là để hỗ trợ cho ông bà trong lúc ông bà khó khăn, không phải tiền lãi.

Do đó, không đồng ý trả lại khoản tiền 1.125.000.000 đồng và tiền lãi theo như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 14/01/2024 ông Trần Nam Đ trình bày:

Ngày 26/4/2022, Tại Văn phòng C, ông Trần Nam Đ đã thực hiện việc chứng nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là ông Trương H, bà Nguyễn Thị T và bên nhận chuyển nhượng bà Đặng Thị N đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ số 119, địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Tại thời điểm chứng nhận Hợp đồng chuyển nhượng, không có sự giả mạo, thoả thuận của các bên không trái đạo đức, không vi phạm điều cấm của pháp luật, năng lực dân sự của các bên không bị hạn chế, các bên tự nguyện ký vào Hợp đồng trước mặt công chứng viên nên quy trình chứng nhận Hợp đồng chuyển nhượng đúng quy định pháp luật. Trong vụ án tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” giữa ông Trương H và bà Đặng Thị N, ông Trần Nam Đ xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

- Tại phiên tòa, đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị T, ông Đỗ Q trình bày: Khi ông H, bà T chuyển nhượng thửa đất 26, tờ bản đồ số 119 cho bà N, hai bên đã lập Hợp đồng đặt cọc, khi hết thời hạn của hợp đồng đặc cọc, bà N không đủ tiền để giao cho ông H, bà T để hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng nhưng bà N vẫn tiếp tục muốn mua thửa đất số 26. Vì vậy bà N đề nghị ông H bà T chuyển số tiền còn thiếu của Hợp đồng chuyển nhượng thành khoản nợ để hai bên tiến hành các thủ tục chuyển nhượng, sang tên thửa đất cho bà N. Việc chuyển nhượng đã hoàn thành theo đúng quy định pháp luật.

Hai bên đã chuyển số tiền 1.125.000.000 đồng trong hợp đồng chuyển nhượng thành khoản nợ và lập giấy nợ đề ngày 25/4/2022 nên bà N phải trả số nợ và phải chịu mức lãi suất trong hạn là 0,83%/tháng (thời gian 02 tháng), phải chịu mức lãi suất quá hạn theo quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự là 1,25%/tháng, từ ngày 25/6/2022 cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm số tiền lãi là 26 tháng 15 ngày, số tiền lãi là 1.125.000.000 đồng x (26+1/2)tháng x 1,25%/tháng = 372.656.250 đồng. Tổng cộng số tiền lãi là 391.331.250 đồng, bà N đã trả được 23.000.000 đồng tiền lãi. Như vậy bà N phải trả tiếp số tiền lãi 368.331.250 đồng. Tổng cộng số tiền bà N phải trả cho ông H, bà T là 1.493.331.250 đồng.

- Tại Bản án sơ thẩm số: 38/2024/DSST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

3

Áp dụng các Điều 463, 465, 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015; Điều 187, 188, khoản 2 Điều 244 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hiệp . Buộc bà Đặng Thị N phải trả số tiền 1.360.080.000 đồng (một tỉ ba trăm sáu chục triệu tám chục nghìn đồng) cho ông Trương H, bà Nguyễn Thị T.
  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Đặng Thị N về tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, bà N có quyền khởi kiện vụ kiện dân sự khác.
  3. Ông Trương H, bà Nguyễn Thị T hoàn trả Giấy chứng nhận quền sử dụng đất số phát hành CY 018599, số vào sổ cấp GCN: CS02412 ngày 18/9/2020 cho bà Đặng Thị N.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 25/9/2024, bị đơn bà Đặng Thị N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị đơn bà Đặng Thị N trình bày: Nguồn gốc số tiền nhận nợ là do xuất phát từ việc chuyển nhượng đất, nay bà xin được thỏa thuận với nguyên đơn: bà đồng ý trả nợ gốc số tiền 1.125.000.000 đồng, thời hạn trả là 06 tháng sau phiên tòa phúc thẩm và không tính tiền lãi. Trường hợp không thỏa thuận được, bà vẫn giữ nguyên nôi dung kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, sửa bản án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm. Việc bà N chỉ đồng ý trả nợ gốc trong thời gian 06 tháng và không trả lãi, ông không đồng ý. Đề nghị Hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị N không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

4

Ngày 13/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm xét xử vụ án. Ngày 25/9/2024, bị đơn bà Đặng Thị N kháng cáo. Như vậy, kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn:

2.1. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Đặng Thị N thừa nhận giấy mượn tiền đề ngày 25/4/2022 được lập để xác định bị đơn bà N có nợ vợ chồng ông Trương H, bà Nguyễn Thị T số tiền 1.125.000.000 đồng, đây là số tiền mà bà Đặng Thị N chưa thanh toán khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 26, tờ bản đồ số 119 từ ông Trương H và bà Nguyễn Thị T; Tuy nhiên, các bên bà Đặng Thị N, ông Trương H, bà Nguyễn Thị T đã tự nguyện thỏa thuận chuyển khoản tiền nêu trên thành khoản nợ và lập “giấy mượn tiền” đề ngày 25/4/2022. Như vậy, việc thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên “giấy mượn tiền” đề ngày 26/4/2022 có giá trị thực hiện cho các bên.

2.2. Về tiền lãi và mức lãi suất: Tại giấy mượn tiền đề ngày 25/4/2022 các bên không thỏa thuận trả lãi và mức lãi suất; nhưng ngày 24/6/2022 bà Đặng Thị N có chuyển khoản cho nguyên đơn số tiền 15.000.000 đồng với nội dung “gửi tiền lãi”, ngày 31/8/2022 bà Đặng Thị N tiếp tục chuyển khoản cho nguyên đơn số tiền 8.000.000 đồng với nội dung “chuyển khoản tiền lãi ứng trước”. Như vậy số tiền lãi mà bà Đặng Thị N đã trả cho nguyên đơn không phù hợp với mức lãi suất 3%/tháng như nguyên đơn đã trình bày nên không có cơ sở xác định mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận mà các bên có tranh chấp về mức lãi suất. Tuy nhiên, căn cứ Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự thì đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn trên số nợ gốc 1.125.000.000.000đồng với mức lãi suất 0,833%/tháng tương ứng với thời gian cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, bà Đặng Thị N phải trả tiền lãi cho nguyên đơn cụ thể là: 1.125.000.000đồng x 28 tháng 15 ngày x 0,833%/tháng = 267.080.000 đồng. Bà N đã trả lãi 23.000.000đồng nên số tiền lãi mà bà N còn phải trả cho ông Trương H, bà Nguyễn Thị T là: 244.080.000 đồng. Do đó, bản án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Đặng Thị N phải trả cho ông Trương H, bà Nguyễn Thị T số tiền nợ gốc là 1.125.000.000 đồng và tiền lãi 244.080.000 đồng là có căn cứ đúng pháp luật.

2.3. Về tiền lãi quá hạn: Theo quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự thì tại giấy mượn tiền ngày 25/4/2022, các bên không thỏa thuận lãi, chỉ thỏa thuận thời gian thanh toán, do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi quá hạn với mức lãi suất 1,25%/tháng với số tiền 105.576.250 đồng là không phù hợp với quy định của pháp luật nên bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Đặng Thị N không cung cấp thêm được chứng cứ nào mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ. Do đó, kháng cáo của bị đơn về các nội dung nêu trên là không được chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

5

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị N; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Trương Hiệp
  2. Bà Đặng Thị N phải trả cho ông Trương H, bà Nguyễn Thị T số tiền 1.369.080.000 đồng. (Một tỷ ba trăm sáu mươi chín triệu không trăm tám mươi ngàn đồng) (Trong đó: tiền gốc 1.125.000.000 đồng, tiền lãi: 244.080.000 đồng).

  3. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trương H về việc buộc bị đơn bà Đặng Thị N phải trả lãi quá hạn số tiền 105.576.250 đồng (Một trăm linh năm triệu năm trăm bảy mươi sáu ngàn hai trăm năm mươi đồng).
  4. Đình chỉ yêu cầu của bà Đặng Thị N về tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Hậu quả của việc đình chỉ theo quy định tại Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  5. Ông Trương H, bà Nguyễn Thị T trả lại cho bà Đặng Thị N giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CY 018599, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số: CS02412 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp ngày 18/9/2020 đứng tên bà Đặng Thị N.
  6. Về án phí phúc thẩm: Bà Đặng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008118 ngày 31/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm. Bà N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  7. Duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2023/QĐ-BPKCTT ngày 20/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa bằng hình thức phong tỏa tài sản là thửa đất số 327, tờ bản đồ số 6, diện tích 1442,6m² tọa lạc tại thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 018599, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số: CS02412 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp ngày 18/9/2020 đứng tên bà Đặng Thị N để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bà Đặng Thị N đối với khoản vay với ông Trương Hiệp .

* Quy định chung:

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án và bản án có hiệu lực thi hành, nếu người phải thi hành án không thi hành án thì còn phải trả lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

6

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND huyện Cam Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Cam Lâm;
  • - Lưu: Tòa DS, VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hạng

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/DSPT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 32/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hiệp - Nga
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger